Con đường dân chủ cho Miến Điện

Phải chăng VN đang thiếu một con người như vậy?…

http://www.x-cafevn.org/node/3188

Submitted by TongBienTap on Tue, 03/13/2012 – 03:02

Nguồn: Rebecca Frayn – Newsweek

Cymbidium, X-Cafe chuyển ngữ

05.03.2012

Aung San Suu Kyi đã hy sinh chồng, con, và 22 năm của cuộc đời để tranh đấu cho dân chủ ở Miến Điện. Chỉ còn vài tuần nữa là đến bầu cử, liệu Suu Kyi có thể đem dân chủ đến quốc gia này được không?

Tôi không thể không nghĩ đến con châu chấu David đánh đổ cỗ xe Goliath khi nhìn các đám đông hân hoan bao quanh Aung San Suu Kyi khi bà hết bị quản thúc tại gia vào năm 2010. Làm thế nào mà một phụ nữ có thân hình mảnh khảnh như vậy đã một thân một mình chống trỏi sức mạnh của một trong những chế độ quân phiệt tàn bạo nhất thế giới trong 22 năm qua? Bà đã từng chạm trán với tử thần ba lần. Vào năm 1989, bà đối mặt với các họng súng của quân thù được lệnh phải bắn vào bà; vài năm sau đó, bà sống sót sau một cuộc tuyệt thực tranh đấu đòi thả tự do các cộng sự viên trong đảng của bà đang bị tù đày; và gần đây nhất vào năm 2003, bà thoát khỏi một vụ ám sát một cách kỳ diệu trong khi đi tranh cử. Lòng quyết tâm bất di bất dịch để thiết lập nền dân chủ ở Miến Điện đã tạo cho bà một vị trí xứng đáng bên cạnh Nelson Mandela và Mahatma Gandhi. Tuy vậy, đằng sau sự can đảm dường như không thể lay chuyển của Suu Kyi là một câu chuyện về sự hy sinh cá nhân bao la. Trong suốt những năm dài bị quản thúc tại gia ở Rangoon, bà đã không được chứng kiến hai đứa con trai đang khôn lớn ở Anh Quốc, trong khi Michael Aris, chồng bà và cũng là một học giả ở Oxford, qua đời vào năm 1999 mà không bao giờ được phép gửi lời vĩnh biệt đến bà. Ít người trong chúng ta có thể hình dung ra được mình phải làm gì khi phải đối diện với hai chọn lựa giữa xứ sở và gia đình riêng tư của mình như bà đã phải trải qua. Nhưng vẫn còn ít người hơn có thể tưởng tượng làm sao tiếp tục sống một cách can trường với những hậu quả xảy ra vì sự lựa chọn đó.

Tôi bị bà Aung San Suu Kyi lôi cuốn khi đến thăm Miến Điện vào năm 1991 với bạn trai lúc đó, hiện giờ là chồng của tôi. Chúng tôi lúc đó tự hỏi có nên kết hôn với nhau không, nhưng bây giờ cũng không biết tại sao chúng tôi đã có ý định đến một đất nước với một thành tích phi nhân quyền nghiêm trọng như thế để tìm câu trả lời. Lúc nào cũng có một công an đi kèm bên cạnh, chúng tôi đi qua những biểu ngữ xui bảo như “Yêu Tổ Quốc” hoặc “Chỉ khi nào có kỷ luật thì mới có tiến bộ” với cảm tưởng như là chính mình đang sống trong bối cảnh ngột ngạt được diễn tả trong cuốn tiểu thuyết 1984 của George Orwell. Và bất cứ nơi nào chúng tôi đến, người Miến Điện sẽ sà vào để nóng lòng chia sẻ với chúng tôi chiều sâu của niềm đau khổ và sự tuyệt vọng của họ. Mặc dù những người công an bám sát chúng tôi cố gắng kiểm soát những gì chúng tôi trông thấy, điều thấy rõ là một đất nước từng là một quốc gia giàu nhất Á Châu này đã bị đưa đến tình trạng khốn khổ cùng cực dưới ách cai trị hà khắc của các tướng lãnh.

Mặc dù lúc đó Suu Kyi mới bị quản thúc hai năm, bà đã thắng lớn trong cuộc bầu cử năm 1990, và chỉ nghe thầm tên của bà là đủ làm cho khuôn mặt của dân chúng rạng rỡ hẳn lên. Suu Kyi là con gái duy nhất của một anh hùng Miến Điện, tướng Aung San, người cho đến ngày nay được tôn thờ với vai trò của ông trong việc đàm phán dành độc lập khỏi ách thống trị thực dân Anh ở Miến Điện và người thành lập quân đội Miến Điện hiện đại. Ông bị ám sát vào năm 1947, sáu tháng trước khi độc lập trở thành hiện thực. Mặc dù Suu Kyi chỉ có 2 tuổi khi ông qua đời, bà lớn lên trong huyền thoại của vĩ nhân Aung San với sứ mạng chính trị dang dở của ông và nhiều người Miến Điện xem bà như là người hóa thân của ông bố. Tôi bị xúc động một cách sâu sa bởi niềm hy vọng mà sự hiện diện vô hình của bà đã reo rắc trong những người cực kỳ khốn khổ này, và trong những năm dài sau đó, tôi thường nghĩ về họ như đang chờ Suu Kyi bước ra từ đôi cánh như con sư tử Aslan của sứ thần tiên Narnia. Và vì thế, bốn năm trước, tôi viết một kịch bản mà bây giờ đã được dựng thành phim The Lady, doLuc Besson đạo diễn với Dương Tử Quỳnh và David Thewlis diễn xuất. Cuốn phim sắp được chiếu ở Mỹ, nhưng bản lậu đã gây ra một sự nôn nao nào đó trên các đường phố Miến Điện.

Để nghiên cứu cho dự án, tôi cố gắng hết sức để liên lạc với rất nhiều bạn bè và gia đình Suu Kyi. Lúc đó tôi tìm ra Michael Aris, người chồng đã tranh đấu không ngừng đằng sau hậu trường để hỗ trợ bà ấy. Cuốn phim của tôi chẳng bao lâu trở thành một chuyện tình đau thương với tất cả các âm hưởng của một thiên tình sử theo kiểu Hollywood xa xưa. Ngay từ đầu, họ là một cặp rõ ràng khác biệt. Michael cao lớn, tóc vàng, mắt xanh, ông thích hút thuốc và uống rượu, và thích giao thiệp với một giọng luyên thuyên như đóng kịch. Suu nhỏ nhắn, tóc đen, một người kiêng rượu, và cực kỳ im lặng. Họ gặp nhau khi Suu đến từ Miến Điện để học triết, chính trị và kinh tế tại Oxford vào năm 1964. Trong bộ quốc phục truyền thống với một bông hoa luôn bên mái tóc, Suu trông đẹp lộng lẫy làm Michael say mê ngay lập tức. Ông học lịch sử cận đại nhưng đặc biệt đam mê về Tây Tạng, Bhutan, Nepal, và trong Suu ông đã tìm thấy sự thể hiện lãng mạn của tình yêu tuyệt vời của ông cho Phương Đông. Nhưng khi Suu chấp nhận lời cầu hôn của Michael, bà giao ước: bất cứ khi nào dân Miến Điện cần bà, bà sẽ trở về với họ. Và Michael không ngần ngại đồng ý. Đó là một thỏa thuận Michael tôn trọng cho đến khi kết thúc một cách đau thương.

Suu Kyi và Michael kết hôn vào năm 1972, và họ định cư tại vùng ngoại ô xanh tươi khi ông được học bổng nghiên cứu tại Oxford. Trong 16 năm kế tiếp, Suu Kyi là một người vợ gương mẫu và một người mẹ hiền dịu khi hai đứa con trai ra đời. Bà hết lòng xả thân xuốt thời gian nội trợ bận bịu trong cuộc đời của bà như bà đã hết lòng cống hiến cho sự nghiệp chính trị của bà sau này. Chẳng mấy chốc bà nổi tiếng về nấu ăn và về tổ chức các buổi sinh nhật sang trọng cho các con trai của bà. Bà thậm chí còn ủi vớ của Michael và lau chùi nhà cửa, thách thức các bạn bè theo đòi nữ quyền hơn cả bà.

Bất cứ ai tin tưởng vào số phận đều bị lôi cuốn vào các sự kiện dẫn dắt một bà nội trợ ở Oxford này trở thành một trong những nhà vận động cho nhân quyền quan trọng nhất của thời đại chúng ta. Năm 1988, khi Suu Kyi và Michael đang ngồi đọc sách trong một buổi tối yên tĩnh ở Oxford, bà nhận được cú điện thoại từ Miến Điện báo tin mẹ bà bị đột quỵ. Bà sửa soạn hành lý ngay lập tức và hẹn trở về càng sớm càng tốt khi có thể. Trong thực tế, bà không bao giờ bước chân trở về Anh Quốc.

Suu Kyi đến Miến Điện trùng hợp với giai đoạn biến động chính trị lớn. Bà đi thẳng đến bệnh viện Rangoon để chăm sóc bà mẹ và thấy các hành lang đầy chặt sinh viên bị thương và đang hấp hối vì bị quân đội bắn trong một loạt các cuộc chạm trán đẫm máu. Hàng ngàn người khác đã bị thảm sát không thương tiếc. Qua một khúc quanh kì lạ của số phận, Suu Kyi vô tình nằm trong tuyến đầu của một cuộc cách mạng không thủ lĩnh. Chính tai bà nghe những câu chuyện đau lòng từ sinh viên về bạo tàn của chính phủ. Mặc dù bà khăng khăng rằng bà có một gia đình đang đợi ở bên Anh, tin đồn đi rất nhanh rằng con gái của Tướng Aung San đã hồi hương để giúp dân Miến Điện trong lúc cần thiết.

Học kỳ đã kết thúc cùng lúc để Michael và hai đưa con trai đi Rangoon thăm bà và xem phóng sự truyền hình trực tiếp trong đó Tướng Ne Win, một nhà độc tài tàn bạo độc nhất vô nhị tuyên bố trước sự ngạc nhiên của mọi người rằng vì tầm quan trọng của tình trạng bất ổn, ông sẽ tổ chức một cuộc bầu cử. Michael tiếp tục xem phóng sự khi một đoàn đại biểu của các học giả từ Đại học Rangoon đến mời Suu Kyi làm thủ lĩnh cho một phong trào mới cho dân chủ với lý do rằng dân chúng khắc nhiên sẽ đoàn kết đằng sau bà vì là con gái của tướng Aung San. Michael và Suu bị dằn vặt bởi lời thỉnh cầu này, hai cậu con trai vô tư không biết gì về tiếng gọi của số phận mà cha mẹ chúng đang trăn trở với nó. Bà quyết định đồng ý để giúp tạo nên một chính phủ lâm thời, nghĩ rằng một khi một thể chế dân chủ được thành lập, bà sẽ tự do trở về Oxford. Michael giúp bà chuẩn bị bài diễn văn lần đầu tiên trong đời mà bà đọc trước một đám đông nửa triệu người. Chỉ hai tháng trước đó, bà chăm sóc gia đình một cách êm ấm so với bây giờ, với vai trò dẫn đầu cuộc nổi dậy của đại quần chúng chống lại một chế độ man rợ. Hai đứa con trai được gửi về trường nội trú ở Anh Quốc, và Michael ở lại để hỗ trợ bà hai tháng nữa cho đến một đêm khi các binh lính đến đuổi ông về nước.

Mới đầu hai vợ chồng hy vọng xa nhau chỉ một vài tháng, nhưng chẳng bao lâu, vài tháng đã trở thành nhiều năm và các con trai đã trưởng thành. Trong năm năm tiếp theo, mặc dù được trao giải thưởng Nobel Hòa bình vào năm 1991, Suu Kyi vẫn bị quản chế trong sự cô lập tuyệt đối. Bà duy tâm bằng cách học thiền, đọc nhiều sách về Phật Giáo và nghiên cứu các tác phẩm của Mandela và Gandhi. Michael và các con chỉ được phép thăm hai lần trong suốt thời gian đó. Chính ra bà tự chọn là một tù nhân lương tâm vì bất cứ lúc nào bà cũng có thể yêu cầu được đưa ra sân bay để quay trở lại với gia đình. Thật vậy, quân đội đã có thể túm lấy lời yêu cầu đó để chấm dứt bế tắc. Nhưng Suu Kyi cũng như Michael không bao giờ có ý định làm bất kỳ điều gì như vậy.

Là một sử gia, ngay cả khi phải vật lộn để ngăn bệnh trầm cảm và vận động chính trị đằng sau hậu trường để can thiệp cho Suu Kyi, Michael luôn luôn nhận thức rằng họ là một phần của lịch sử đang thành hình. Ông tiếp tục trưng bày cuốn sách bà đang đọc khi bà nhận được cú điện thoại gọi bà về Miến Điện. Ông trang trí các bức tường trong nhà với các bằng tưởng lục của các giải thưởng bà nhận được cho đến ngày nay. Và ở trên giường của mình, ông treo một bức ảnh lớn của bà. Dĩ nhiên, trong thời gian dài bặt tin, ông ta tự hỏi không biết Suu Kyi thậm chí còn sống không. Ban đầu, ông vui mừng khi thỉnh thoảng nghe các báo cáo từ người đi ngoài đường nghe tiếng dương cầm Suu Kyi đang chơi trong nhà quản thúc, nhưng khi độ ẩm rốt cuộc làm hỏng chiếc đàn, ông ta cũng mất luôn cả niềm tin mong manh này.

Sau đó, khá bất ngờ, vào năm 1995, Michael nhận được một cú điện thoại từ Suu. Bà nói bà gọi từ Đại sứ quán Anh. Bà đã được tự do một lần nữa! Có lẽ hy vọng rằng cuối cùng họ đã có thể thuyết phục bà đi, Michael và hai đứa con được cấp giấy chiếu khán. Nhưng người họ gặp gỡ đã trở thành một người phụ nữ hoàn toàn bị chính trị hóa qua những năm bị cô lập đã tôi luyện quyết tâm chính trị của mình thành thép. Đó là lần cuối cùng Michael và Suu được phép gặp nhau. Ba năm sau đó, khi được biết mình bị ung thư trong giai đoạn cuối cùng, ông gọi cho bà để báo tin xấu và ngay lập tức xin giấy chiếu khán để ông có thể tự mình nói lời vĩnh biệt.

Khi đơn xin của ông đã bị từ chối, ông đã xin lại hơn 30 lần trong khi sức khoẻ càng ngày càng suy xụp. Một số nhân vật nổi tiếng, trong đó Đức Giáo Hoàng John Paul II và Tổng thống Bill Clinton đã viết thư thỉnh cầu hộ ông, nhưng tất cả đều vô ích. Cuối cùng, một viên chức quân sự đến gặp Suu Kyi. Ông nói, tất nhiên, rằng bà có thể nói đôi lời vĩnh biệt với chồng, nhưng muốn làm như vậy bà ấy sẽ phải quay trở lại Oxford. Sự lựa chọn ngấm ngầm ám ảnh bà suốt 10 năm vợ chồng chia lìa bây giờ đã trở thành một tối hậu thư rõ ràng. Tổ quốc hoặc gia đình của bà. Bà rất lo âu. Nếu bỏ về, cả hai Suu Kyi và Michael đều biết điều đó có nghĩa là vĩnh viễn lưu vong và tất cả mọi thứ họ đã sát cánh tranh đấu bên nhau sẽ chấm dứt. Suu gọi Michael từ Đại sứ quán Anh khi bà có thể làm được, và mỗi lần nói chuyện, Michael luôn luôn cương quyết khuyên bà đừng bao giờ có ý tưởng bỏ cuộc. Cuối cùng, khi Suu Kyi chấp nhận bà sẽ không bao giờ được nhìn thấy Michael một lần nữa, bà mặc chiếc váy với màu mà Michael thích nhất, cài một hoa hồng trên mái tóc, và đi đến Đại sứ quán Anh. Nơi đây, bà thu hình một thước phim chia tay mà trong đó bà nói tình yêu của Michael dành cho bà là trụ cột và điểm tựa cho cuộc đời của bà. Cuộn phim được chuyển lén ra ngoài, nhưng đến nơi chỉ hai ngày sau khi Michael qua đời.

Với cá tính sắt đá, Suu Kyi luôn luôn tránh né mọi cố gắng để nói về sự đau khổ của bà. Khi một nhà báo nói với bà rằng chuyện hôn nhân của bà có những yếu tố giống như một một bi kịch Hy Lạp, bà cho ông ta một trận sống chết. Bà nhắc ông ta là bà đã chọn con đường đó. Và chính lòng kiên trì vững chắc mà bà đã gìn giữ được để đi đến sự lựa chọn đó đã chiếm lòng tôi với sự khâm phục sâu sắc khi tôi viết những giòng này. Mặc dù bà đã bình chân qua 24 năm dài dẵng, niềm đau đớn của sự hy sinh của gia đình Aris đã luôn luôn bị làm phức tạp thêm bởi sự tiến bộ chính trị không đáng kể đã đạt được, và chắc chắn có người tự hỏi cái tổn thất cá nhân đó có thể được đánh giá là xứng đáng không.

Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy các chế độ độc tài đang sụp đổ trên toàn thế giới, quân đội Miến Điện cuối cùng đã tuyên bố cải cách chính trị, điều quan trọng nhất trong đó là cuộc bầu cử vào tháng Tư này, trong đó Suu Kyi và đảng Liên đoàn Dân chủ Quốc gia của bà. Sự hỗ trợ cho bà từ dân Miến Điện đã chưa bao giờ được cao như thế. Vào tháng trước, khi bắt đầu chuyến đi tranh cử đầu tiên kể từ khi trở thành một ứng cử viên chính thức, bà gặp các đám đông nhiệt tình trong xuốt bốn tiếng dọc theo con đường từ Rangoon đến Pathein. Và mặc dù dưới nhiệt độ thiêu đốt, hơn 10.000 người chờ bà đến đọc diễn văn trong một sân vận động thể thao đông nghẹt và khi bà đến, họ dâng biểu ngữ ca ngợi bà là “Mẹ Dân chủ.”

Ngay cả những người chỉ trích Miến Điện khắt khe nhất cũng rất ngạc nhiên với số lời hứa cải cách đã được thực hiện; song song với cuộc bầu cử sắp tới, chính phủ đã thả hàng trăm tù nhân chính trị, ký thỏa thuận ngừng bắn với quân nổi dậy của dân tộc thiểu số, tăng tự do báo chí, và nới lỏng luật kiểm duyệt. Tất nhiên chủ yếu của chính phủ là hy vọng những cải cách sẽ dẫn đến việc dỡ bỏ phong toả kinh tế, nhưng các chính phủ Tây phương và Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố họ sẽ chỉ xét lại các biện pháp trừng phạt sau khi quan sát cuộc bầu cử tháng Tư được tiến hành một cách tự do và công bằng ra sao. Vì vậy, mặc dù Suu Kyi được cho là sẽ thắng lớn, người ta nó vẫn còn xem mức độ quyền lực bà sẽ thực sự vận dụng, nếu có.

Và hai đứa con của Mẹ Dân chủ để lại bây giờ ra sao? Alexander, con trai lớn của Suu Kyi, năm nay 38, hiện đang sống ở Hoa Kỳ và chưa đến thăm bà. Nhưng Kim, bây giờ 34, cuối cùng cũng được cấp giấy chiếu khán để đi thăm người mẹ mà lần trước anh ta đã gặp vào một thập kỷ trước đó. Anh ôm chầm lấy bà tại sân bay trước khi tự hào khoe hình xăm mới toanh trên cánh tay của mình. Hình xăm là một lá cờ với con công, biểu tượng của đảng Liên đoàn Quốc gia Dân chủ của bà Suu Kyi. Thế là bánh xe lịch sử đang xoay để tìm đến Suu Kyi, người từng là cái gai lớn nhất đối với quân đội, hiện nay đang ở trong vị trí hoàn hảo để tạo điều kiện cho chuyển giao hòa bình cho thể chế chính trị, cũng giống như Mandela đã làm cho Nam Phi. Giấc mơ cho nền dân chủ của Aung San Suu Kyi – một giấc mơ được chia sẻ bởi 59 triệu dân Miến Điện – sắp sửa trở thành sự thật ngay trước mắt chúng ta.

 

Chủ trương ĐỒNG HOÁ DÂN TỘC – Món quà kỷ niệm sự kiện TRƯỜNG SA – GẠC MA 14.03.1988


http://danlambaovn.blogspot.com/2012/03/chu-truong-ong-hoa-dan-toc-mon-qua-ky.html#more

Dân Làm Báo – Bộ GD&ĐT vừa công bố xin ý kiến rộng rãi dự thảo chương trình tiếng Hoa cấp tiểu học và cấp THCS. Theo đó, tiếng Hoa sẽ được đưa vào giảng dạy ở hai cấp học này với số lượng 4 tiết/tuần. Chương trình này với mục tiêu đưa ra mà không ai có thể tin nổi: thông qua tiếng Hoa có hiểu biết ban đầu về con người, cuộc sống, văn hóa của người Hoa ở Việt Nam; xây dựng thái độ ham mê học tập tiếng Hoa, tăng cường nhận biết về vai trò của tiếng Hoa trong đời sống cộng đồng người Hoa. 

Ôi nghe sao mà tha thiết cứ như câu thơ dạo nào tưởng đã bị lịch sử quăng vào sọt rác: “Bên này biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương”. Sao không tha thiết và tình nghĩa công bằng hơn là cho các em học luôn tiếng Ra đê, tiếng Tày, tiếng Thái, tiếng Khmer, tiếng H’mông… tiếng của 54 dân tộc Việt Nam để tăng cường hiểu biết, thương yêu những con người mà chúng ta gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào?

Muốn phục vụ đại hán và muốn cùng với đám đồng chí bên kia biên giới cũng là quê hương hán hóa nước Việt này thì cứ huỵch toẹt ra, đã có công an và côn đồ bảo vệ há gì phải đạo đức giả hiệu như hàng Tàu mượn chiêu “cộng đồng” với “dân tộc anh em” chi cho mệt?

Và xây dựng thái độ ham mê học tập tiếng Hoa!?? cho tuổi thơ Việt Nam ngay từ cấp tiểu học!?

Chợt nhớ lại lời tuyên bố vài tháng trước đây của các ngài lãnh đạo đảng: “nguyện ghi nhớ và trân trọng sự giúp đỡ to lớn chí tình chí nghĩa”, “có còn ai hơn một nước Trung Quốc Xã hội chủ nghĩa láng giềng”… “Khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt – Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau“… 

Chợt nhớ đến những cái lồng đèn Trung Quốc được lãnh đạo Lào Cai ra lệnh cho nhân dân treo khắp phố phường.

Chợt nhớ lại trò tráo trở đổi Ngày tái lập tỉnh Lào Cai 10 tháng 10 năm 1991 thành 1 tháng 10 cho ăn khớp với ngày thiên triều phương Bắc tưng bừng ăn mừng Quốc Khánh.

Chợt nhớ lá cờ 6 sáu sao trên màn hình VTV và rừng cờ 6 sáu sao trên tay các em bé Việt Nam bởi “sơ sót của nhân viên Bộ ngoại giao”.

Thì bây giờ cũng không khó hiểu và ngạc nhiên về  việc xây dựng thái độ đam mê học tiếng Hoa cho học trò Việt của Bộ GD & ĐT.

Trên thế giới Facebook, ý kiến đã bắt đầu sôi nổi và “rộng rãi” cho dự thảo đem chương trình tiếng Hoa vào cho các thế hệ mầm non Việt Nam.

Một “teen” bạn đọc Danlambao gửi lời nhắn theo ngôn ngữ của “teen” thời a còng, thể hiện một góc khác về vấn đề này: “Tiếng Việt nó học ko xong, tiếng Anh rồi tin học, búa xua bà xùa, riết rồi học cả đống, mà ko có cái gì ra hồn, thấy chương trình học sinh ngày càng nhiều, càng nặng, muh học sinh cũng ngày càng ngu lun”…. mà với cấp tiểu học chương trình tiếng Anh vẫn chưa phổ cập nha, chỉ 1 số trường điểm mới đưa tiếng Anh vào giảng dạy thôi, và giảng dạy chỉ là về ngôn ngữ chứ ko phải dạy về văn hóa… 

Học Tiếng Trung, sẽ sử dụng sách của Trung cộng soạn (nó sẽ ghi cái éo gì vào đấy)==> Nhồi sọ tiếp, đã vậy nó đưa văn hóa nó vào lớp học sinh lớp 2, lúc này trí tuệ và nhận thức chưa định hình =>2/10 văn Hóa Tàu nằm trong đầu Người Kinh rồi. Đã vậy tác động vào Giáo Dục VN nữa chứ. Thâm lắm đó… (Vo Tak)

Một bạn khác: “Bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Hoa, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người Hoa ở Việt Nam.” <== Đây là trách nhiệm của học sinh sao, nếu nói như vậy ko biết học sinh VN phải học thêm bao nhiêu thứ tiếng nữa đây??? Trong khi hiểu biết của học sinh với văn hóa Việt còn lơ tơ mơ. (Vinh Le)

“Tiếng Anh học mãi chưa xong còn đòi tiếng Bông! Các bác bon chen vãi ra! nản…!”(Teredo Le)

“Thế giới phổ cập Tiếng Anh, riêng VN, mấy ông cán bộ thích phổ biến tiếng Tàu” (Tổ quốc tôi yêu)

“Bước 1: người hoa di cư sang tây nguyên(boxit) 

Bước 2: cho dân chúng quen dần với cờ 6 sao 

Bước 3: phổ cập tiếng hoa 

Bước 4 sống và học tập làm việc theo Bác Mao!” (Rvs Dlt)

Chỉ còn vài phút nữa là chuyển sang ngày 14 tháng 3, 24 năm sau trận Hải chiến Trường Sa – Gạc Ma. Chúng ta kỷ niệm ngày các chiến sĩ anh dũng hy sinh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải bị xâm chiếm bởi Trung Quốc như thế này sao!?

Dân Làm Báo

danlambaovn.blogspot.com

Sẽ đưa tiếng Hoa vào dạy tiểu học, THCS

Bộ GD&ĐT vừa công bố xin ý kiến rộng rãi dự thảo chương trình tiếng Hoa cấp tiểu học và cấp THCS. Theo đó, tiếng Hoa sẽ được đưa vào giảng dạy ở hai cấp học này với số lượng 4 tiết/tuần.

Ở cấp tiểu học, mục tiêu hướng đến là bước đầu hình thành năng lực giao tiếp tiếng Hoa, trong đó chủ yếu là 2 kĩ năng nghe và nói; cung cấp kiến thức cơ bản và tối thiểu về tiếng Hoa, bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và thông qua tiếng Hoa có hiểu biết ban đầu về con người, cuộc sống, văn hóa của người Hoa ở Việt Nam; xây dựng thái độ ham mê học tập tiếng Hoa, tăng cường nhận biết về vai trò của tiếng Hoa trong đời sống cộng đồng người Hoa.

Cấp trung học cơ sở, việc dạy tiếng Hoa hướng tới củng cố và phát triển năng lực giao tiếp tiếng Hoa, trong đó chủ yếu là 2 kĩ năng đọc và viết; cung cấp kiến thức cơ sở và đặc trưng về tiếng Hoa, bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách và thông qua tiếng Hoa mở rộng hiểu biết về con người, cuộc sống, văn hóa của người Hoa và các dân tộc anh em ở Việt Nam; bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Hoa, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người Hoa ở Việt Nam.

Ngữ liệu được xây dựng theo các chủ điểm cơ bản: gia đình, trường học, thiên nhiên, cộng đồng, đất nước, văn hóa dân tộc. Ngữ liệu phù hợp với tâm lý, tình cảm, nhận thức, thẩm mỹ của học sinh người Hoa ở Việt Nam. Nguồn ngữ liệu theo tỷ lệ 70% là của người Hoa ở Việt Nam (có điều chỉnh hợp lý theo từng lớp học).

Học sinh hoàn thành chương trình tiếng Hoa cấp tiểu học và cấp THCS, có kết quả kiểm tra cuối cùng đạt điểm 5 trở lên được xét cấp chứng chỉ tiếng dân tộc theo quy định.

Viet Bao.vn (Theo GD&TĐ)

http://vietbao.vn/Giao-duc/Se-dua-tieng-Hoa-vao-day-tieu-hoc-THCS/2131433441/202/

Trường Sa – Gạc Ma 1988 – 24 năm nhìn lại


http://danlambaovn.blogspot.com/2012/03/truong-sa-gac-ma-1988-24-nam-nhin-lai.html#more

Mẹ Nấm – Cách đây hơn nửa thế kỷ, Thống tướng Douglas MacArthur của Hoa Kỳ đã để lại một câu nói bất hủ: “Old soldiers never die, they just fade away” – Những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ mờ nhạt đi.

Nhưng tại Việt Nam, có những người lính trẻ đã chết, cái chết của họ không chỉ mờ nhạt đi mà còn bị chôn vào quên lãng, bị xoá mờ chứng tích. Đó là những người lính Việt Nam đã hy sinh vì Tổ quốc để bảo vệ núi rừng và biển đảo của tổ tiên.

24 năm sau trận Hải chiến Trường Sa – Gạc Ma (14/03/1988) không một dòng thông tin nào nhắc về biến cố này. Điều này hoàn toàn không giống như những sự kiện lịch sử khác luôn được báo chí, truyền hình và hệ thống thông tin cơ sở nhắc đến nhiều lần trước ngày kỷ niệm.

Những người Việt Nam sử dụng Internet hiện tại biết nhiều đến trận hải chiến này phần nhiều qua một đoạn video clip do phía Trung Quốc công bố trên Youtube mô tả cảnh hải quân nước này nã nhiều loạt súng máy phòng không 37 ly cùng pháo 105 ly vào lực lượng hải quân công binh Việt Nam tay không vũ khí đang dầm mình trong nước bám trụ giữ đảo.

Tháng 9 năm ngoái, trong một buổi lễ kỷ niệm cuộc gặp gỡ của các cựu chiến binh đã chiến đấu trên tàu HQ604 trong chiến dịch CQ88 tại Trường Sa (1988) có tên “Vòng tròn bất tử” do Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa tổ chức tại khu du lịch Suối Lương (Đà Nẵng), chín cựu binh sống sót sau trận chiến này mới có dịp gặp lại nhau sau khi bị bắt và được trao trả về Việt Nam 1992. Một trong số chín người này đã mất vì bệnh ung thư.

Tôi không được tham dự cuộc gặp gỡ này với lý do “nhạy cảm”, mặc dù trước đó đã nhận được sự đồng ý của Ban tổ chức chương trình nên đã bỏ lỡ phần chia sẻ của những nhân chứng lịch sử và những khoảnh khắc xúc động của cuộc gặp gỡ này.

“Khi tàu bị tấn công, lính và sĩ quan mình trúng đạn ngã la liệt. Tui chỉ kịp xé áo người này quấn cho người kia để cầm máu”, cựu binh Dương Văn Dũng kể. “Tui nhớ đang băng vết thương cho anh Trừ (Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ – HQ604) thì nghe ‘ầm’ rồi tàu chìm.”

“Bọn này ôm phao trôi nổi trên biển gần 12 tiếng đồng hồ mới được bọn nó vớt”, Lê Minh Thoa thuật lại bằng giọng Bình Định, “vậy mà 3 ngày sau là hết bọn tui bị lột da từ đầu đến chân”.

“Cho đến gần đây vợ tui mới tin tui từng chiến đấu ở Trường Sa rồi bị Trung Quốc bỏ tù”, cựu binh Trương Văn Hiền kể, “trước nay nó cứ tưởng tui bị đi tù rồi bịa chuyện để nói với con”. Đứa con gái thứ hai của anh Hiền, năm nay 6 tuổi, thuộc lòng tên các hòn đảo ở Trường Sa, nơi cha mình từng chiến đấu. “Nó cứ đòi coi cái đĩa quay cảnh chiến đấu ở Trường Sa của tui”, anh Hiền nói. ((*))

(Trích từ bài viết “Vòng tròn bất tử” – Trung Bảo)

Tất cả những người cựu binh có mặt trong cuộc gặp gỡ hôm đó đều bật khóc khi được xem lại đoạn phim quay cảnh hàng loạt đồng đội của mình đã ngã xuống dưới làn đạn của lính Hải quân Trung Quốc trên đảo Cô Lin, Gạc Ma…

Những người thân của các chiến sĩ công binh đã nằm xuống trong trận chiến Trường Sa – Gạc Ma 1988 đến giờ vẫn tiếp tục tìm kiếm sự thật về sự hy sinh của chồng, của cha mình.

Chị Mai Thị Hoa, vợ liệt sĩ thiếu úy Trần Văn Phương bật khóc khi xem đoạn phim kể chuyện chồng mình hô to khẩu hiệu “Thà hy sinh chứ không để mất đảo. Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ biển Đông chứ cương quyết không để mất đảo”

Câu khẩu hiệu của thiếu úy Trần Văn Phương được Trương Minh Hiền nhớ lại một cách khác, anh bảo lúc đó anh đứng gần chiếc xuồng, cũng là gần chỗ Trần Văn Phương cầm cờ, hình như đó là “Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ biển Đông chứ cương quyết không để mất đảo!”

(Trích bài “Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ biển Đông” – Hồ Trung Tú )

24 năm trôi qua, vẫn là sự im lặng thường thấy đối với biến cố lịch sử này. Thật khó tin đó là sự thật khi có quá nhiều chương trình kêu gọi đóng góp để xây dựng Trường Sa.

Tại sao những người cựu binh, lẽ ra phải được chào đón và tôn vinh như những anh hùng bởi họ là những nhân chứng lịch sử có thật và xác đáng nhất cho “sự vô nhân bất tín” của nước láng giềng “hữu hảo” Trung Quốc lại muốn quên đi những ngày tháng này?

Có lẽ, những người cựu binh Trường Sa – Gạc Ma năm xưa cũng không thể ngờ rằng, 24 năm sau, nhiều người Việt Nam khác vẫn đang tiếp tục tìm kiếm thông tin về những gì đã xảy ra, và vẫn tiếp tục nỗ lực âm thầm đấu tranh cho sự thật nhằm giữ đảo cho muôn đời sau.

Có những cái chết bi tráng. Nhưng chắc không có đau đớn nào bằng cái chết của sự thật về những cái chết bi tráng đó. Người ta bằng mọi cách đã xoá đi những vết tích anh hùng của một dân tộc trong khi luôn ra sức ca tụng những anh hùng không có thật. Và có lẽ chỉ có ở Việt Nam mới có chuyện anh hùng bị phân biệt đối xử một cách rạch ròi. Sự xếp loại không tuỳ thuộc vào những người đã nằm xuống vì đại nghĩa, vào xương máu của họ đã đổ ra như thế nào.

Ở Việt Nam, các anh hùng có được ghi nhớ hay không – Điều này tùy thuộc vào kẻ thù đã bắn những viên đạn xâm lăng vào họ.

Mẹ Nấm

http://menam0.multiply.com/journal/item/606

Thực chất vụ bán 49% cỗ phần NMLD Dung Quất


http://danlambaovn.blogspot.com/2012/03/thuc-chat-vu-ban-49-co-phan-nmld-dung.html?utm_source=BP_recent

Phan Châu Thành – Họ sẽ mượn tay “nhà đầu tư nước ngoài mua 49% CP NM” để có thể đầu tư thêm 700 tr.USD nhưng cũng để có thể cùng tham nhũng thêm 1 tỷ USD nữa, nâng “giá trị ảo” của NMLD DQ lên thành trên 5,215 tỷ USD thay vì 4,2 tỷ USD… Đây sẽ là SAI LẦM LỚN TIẾP THEO CHE ĐẬY SAI LẦM LỚN ĐÃ MẮC của Đảng CSVN chỉ trong một công trình NMLD DQ mà họ luôn “tự hào” và bắt nhân dân phải nộp tiền cho họ và phải biết ơn đảng! Biết ơn gì? Biết ơn Đảng đã phá hoại và ăn cắp của đất nước, của nhân dân trên 2 tỷ USD (rồi) và sẽ còn cắn thêm hơn 1 tỷ USD nữa trong vụ bán 49% CP sắp tới? 

*

Việc hiện nay PetroVietnam (PVN) đang phải cố gắng bán 49% cổ phần NMLD Dung Quất là vì những lý do và ý đồ thực chất sau:

1. Trong năm 2011 vừa qua, năm thứ 2 đi vào khai thác của một công trình mới 100% trị giá quyết toán đến khoảng trên 3,5 tỷ USD, NMLD DQ đã lỗ trắng trên 3000 tỷ VNĐ nữa (khoảng 150 triệu USD). Đây là con số “bí mật” không được báo chí công bố ra ngoài nhưng trong ngành thì… ai ai cũng biết.

Sự thực là, nếu cứ để thế khai thác tiếp thì NMLD DQ sẽ còn lỗ tiếp lớn hơn trong năm nay 2012 và các năm tới, và chắc chắn sẽ dẫn đến thảm họa kỹ thuật (các sự cố do thiết bị không tương ứng như tôi đã nói trong bài trên) và thảm họa kinh tế cho PVN và cả quốc gia. Vì thế, phải sửa chữa NMLD DQ là điều bắt buộc đối với PVN. Việc đâu tư xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của VN coi như chưa hoàn tất (mặc dù đã là niềm tự hào của ngành dâu khí VN!) sau khi PVN đã tiêu 3,5 tỷ trong trên 10 năm qua.

2. Nhưng sao lại phải sửa chữa một “niềm tự hào” – một nhà máy mới hoàn toàn? Nghe vô lý quá? Đỉnh cao trí tuệ gì mà làm ăn kém dzậy? Vì thế, đỉnh cao trí tuệ quyết định “lý do thực chất” là vì PVN muốn mở rộng nhà máy, năng công suất lên thành 9 tr.t/năm.

3. Nhưng Chính phủ VN hay PVN lấy đâu ra tiền để sửa chữa NMLD DQ nữa, khi anh cả đỏ PVN đã và đang bị sa lầy tài chính khắp nơi: trên các “sân nhà” như trên “sân” Điện lực (với Tcty PV “no” Power ), “sân” của Xăng dầu (với TCty PV “ôi”…), trên ‘sân” xây dựng và BĐS (với các TCty PVC và TCty PV Lands…), và trên các “sân khách”: Đầu tư khai thác với Algeria, Venezuêzia… mỗi nơi đều mất vài tỷ USD trong mấy năm qua?

Chỉ có cách “lấy mỡ nó rán nó”, vốn luôn là tuyệt chiêu của CSVN mọi lúc mọi nơi, trong chiến tranh và trong kinh tế đều vậy.

Vậy là chỉ còn cách lấy Dung Quất “rán” Dung quất mà thôi.

4. Nhưng NMLD DQ vốn dĩ ai cũng biết là “của ôi” rồi, trị giá 3,5 tỷ USD mà chỉ làm ra “lỗ tạm” nhưng lỗ khá sâu – mỗi năm vài trăm triệu đô, thì bán hay “rán” nó ra sao cho “thơm” đây?

Thế mà PVN vẫn sẽ “rán” nó được đấy! Và đây lại là tuyệt chiêu nữa của CSVN: Luôn luôn lấy sai lầm mới để sửa chữa sai lầm cũ, lấy lừa dối mới để che đậy sự lừa dối cũ, lấy đối tác mới “rán” ông chủ Nhân dân – đã cũ…

Vấn đề là PVN phải thực hiện sai lầm mới này một cách thật hoành tráng để nhân dân tin tưởng đó là thành công mới của đảng và chính phủ. Mà dân ta thì rất ngu, nói gì tin nấy (ấy là đảng ta nghĩ thế), dân ta đến nay vốn luôn luôn tin vào đảng và chính phủ mà, nên đó là chuyện nhỏ với đảng và CP, và với cả PVN.

5. Trên tinh thần “cách mạng” đó, thực chất tài chính của vụ việc PVN “bán” 49% CP NMLD DQ là như sau:

Giá trị sổ sách của NMLD DQ hiện là khoảng trên 3,5 tỷ USD, nếu bán 49% là 1,715 tỷ USD thì không nhà đầu tư nào thèm mua. Bởi vì, bỏ ra 1,715 tỷ USD để mỗi năm gánh lỗ thêm chừng 75 triệu USD nữa cho PVN thì nghe có vẻ không logic lắm với bất kỳ ai, nhỉ? Và đừng nói các nhà tài phiệt dầu khí dốt hơn CSVN nhé, hay họ sẽ lại bị CSVN lừa nhé… (Họ trả “học phí ngu” cho PVN …đủ rồi).

Ai cũng có thể biết NMLD DQ chỉ có giá trị (net value, net equity, net worth) chỉ đáng giá max 1,5 tỷ USD tính theo công suất hay sản lượng thực của nó: 6 triệu tấn sản phẩm đầu ra với giá thành gia công chế biến dầu thô trung bình (cao) 50 USD/T (con số này ở khu vực là 46-48 USD), và cho doanh số 300 triệu USD, tức tổng tài sản của NMLD DQ có trị giá thị trường max là 5 lần 300 triệu tức 1,5 tỷ USD, nếu VN muốn bán nó ra thị trường quốc tế, ví dụ NY Stock Exchange…

Nhưng NMLD DQ đã được PVN “đầu tư” đến 3,5 tỷ USD (ai không biết 2 tỷ USD “từ đâu dôi ra” kia họ đã “đầu tư” ra sao – nhìn tài sản và cuộc sống của quan chức chính phủ VN và PVN thì biết liền!), tức là đã có 2 tỷ USD là “đầu tư ảo” trong đó – tham nhũng, thất thoát, không hiệu quả. Mua 49% CP DQ là mua khoảng 1 tỷ USD “đầu tư ảo” đó nữa, nên nhà đầu tư mới vào NMLD DQ cũng sẽ được PVN cho phép “mua ảo” hay “đầu tư ảo” chung.

Có nghĩa là, thay vì bỏ ra 1,715 tỷ USD mua 49%CP, nhà đầu tư mới chỉ cần bỏ khoảng 700 triệu USD thật để sửa chữa nhà máy (chuyển từ chủ yếu xài dầu ngọt Bạch Hổ sang dầu chua Vênêzuyêna hay Trung đông) và để lắp dây chuyền công nghệ xử lý dầu chua mới nâng công suất NM lên thành 9 tr.t/năm, thêm 3 triệu t/năm, còn 1 tỷ USD nữa là “ảo”, tức không phải bỏ tiền ra, mà vẫn được “ghi nợ” tổng số trên 1,7 tỷ USD… Các nhà đầu tư mới nổi từ Nga và Châu Á “đại lục” rất khoái kiểu ăn “1 vốn bốn lời” này…

Làm sao họ làm thế được về kỹ thuật đầu tư? 

Đơn giản, vì nhà đầu tư sẽ được trực tiếp tiến hành việc sửa chữa, nâng cấp, mở rộng NM theo yêu cầu trên của PVN (như “điều kiện” của việc bán cổ phần này), nên thực chất họ sẽ mang thẳng thiết bị rẻ tiền vào để làm việc đó và tự xuất hóa đơn tùy thích cho PVN, sao cho họ bao trọn 49%CP NMLD DQ là 1,715 tỷ USD…

6. Sau màn biểu diễn quốc tế sắp tới mang tên “PVN bán 49% CP NMLD DQ” trên của PVN, NMLD DQ sẽ có giá trị sổ sách – booking value là …5,215 tỷ USD (3,5 tỷ + 1,715 tỷ USD), với công suất 9tr.t/năm. Giá trị thực của nó lúc đó theo sản lượng (tức theo khả năng tạo doanh thu, lợi nhuận ròng trước thuế) là: 9 tr.t/n x 50 USD/t x 05 = 2,25 tỷ USD.

Tức phần “đầu tư ảo” sẽ tăng từ 2 tỷ USD hiện nay thành: 5,215 – 2,25 = 2,965 tỷ USD, gần 3 tỷ USD.

Điều đó có nghĩa là PVN và “nhà đầu tư mới” của PVN sẽ nghiễm nhiên được chiếm thêm 965 triệu USD “đầu tư ảo” nữa qua phi vụ này, mỗi bên khoảng 1 nửa (51/49%) số đó.

7. Kết luận buồn: 

Thay vì dũng cảm nhận sai lầm của công trình NMLD DQ đã đầu tư và huy động vốn đầu tư 700 triệu USD thêm cho NMLD DQ để sửa chữa sai lầm cũ đó và mở rộng NM, nâng tổng mức đầu tư lên 3,5 tỷ + 0,7 tỷ = 4,2 tỷ USD (trong đó vẫn chỉ có 2 tỷ “ảo”) thì VN cũng sẽ có NM LD DQ công suất 9 tr.t/năm, Đảng CSVN và CP VN cùng PVN lại chọn con đường tiếp tục lừa dối nhân dân, tiếp tục phá hoại dất nước, tiếp tục tham nhũng lớn công khai đồng tiền và tài sản của nhân dân!

Họ sẽ mượn tay “nhà đầu tư nước ngoài mua 49% CP NM” để có thể đầu tư thêm 700 tr.USD nhưng cũng để có thể cùng tham nhũng thêm 1 tỷ USD nữa, nâng “giá trị ảo” của NMLD DQ lên thành trên 5,215 tỷ USD thay vì 4,2 tỷ USD…

Đây sẽ là SAI LẦM LỚN TIẾP THEO CHE ĐẬY SAI LẦM LỚN ĐÃ MẮC của Đảng CSVN chỉ trong một công trình NMLD DQ mà họ luôn “tự hào” và bắt nhân dân phải nộp tiền cho họ và phải biết ơn đảng!

Biết ơn gì? Biết ơn Đảng đã phá hoại và ăn cắp của đất nước, của nhân dân trên 2 tỷ USD (rồi) và sẽ còn cắn thêm hơn 1 tỷ USD nữa trong vụ bán 49% CP sắp tới?

Và vì đảng CSVN đã và đang lấy NMLD DQ “rán” dân Việt ta ư?

Làm người Việt hôm nay thật nhục nhã và thật chua xót lắm thay! Bị Đảng kính yêu “rán” giòn, rán “thơm” rinh lên và phải cảm ơn Đảng chối chết…

Phan Châu Thành

danlambaovn.blogspot.com 

*

Bán 49% cổ phần nhà máy lọc dầu Dung Quất

Công ty TNHH lọc – hóa dầu Bình Sơn đang đàm phán với 3 đối tác tại Nhật, Venezuela và Hàn Quốc để bán 49% cổ phần nhà máy lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi) nhằm đầu tư mở rộng, nâng công suất nhà máy.

Mẻ xăng sinh học đầu tiên ra lò tại Dung Quất

PetroVietnam xin tái xuất xăng dầu Dung Quất

Trao đổi với VnExpress.net sáng nay, ông Nguyễn Hoài Giang, Tổng giám đốc Công ty TNHH lọc – hóa dầu Bình Sơn cho biết công ty đang đàm phán với 3 đối tác là JX Nippon (Nhật Bản), Petróleos de Venezuela SA (Venezuela) và SK (Hàn Quốc) để bán 49% cổ phần của nhà máy lọc dầu Dung Quất. Việc bán cổ phần nhằm phục vụ cho tái đầu tư nâng công suất, mở rộng nhà máy từ 6,5 triệu tấn hiện nay lên 10 triệu tấn.

Theo ông Giang, 3 công ty nói trên là những doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực về tài chính và dồi dào kinh nghiệm về lĩnh vực lọc hóa dầu. “Có thể cả 3 công ty cùng góp vốn nhưng cũng có khi một hoặc 2 đối tác mua 49% cổ phần nhà máy”, ông Giang cho biết.

 Phân xưởng Cracking xúc tác nhà máy lọc dầu Dung Quất. Ảnh: Trí Tín.

Công ty TNHH lọc – hóa dầu Bình Sơn cũng đang phối hợp với các cơ quan chuyên môn định giá toàn bộ tài sản của nhà máy.

“Đối tác nào mua cổ phần của nhà máy thì cũng sẽ tham gia nâng công suất, mở rộng nhà máy lọc dầu Dung Quất trong thời gian tới. Khi công suất lên đến 10 triệu tấn một năm, nhà máy có khả năng đáp ứng khoảng 40 đến 45% nhu cầu thị trường trong nước”, ông Giang cho biết thêm. Dự kiến đến cuối tháng này, kế hoạch khả thi mở rộng nhà máy sẽ hoàn tất.

Trí Tín

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/03/ban-49-co-phan-nha-may-loc-dau-dung-quat/

Nguyễn Khắc Nhẫn – Ninh Thuận sẽ trở thành Fukushima?

Submitted by TongBienTap on Mon, 03/12/2012 – 21:56

Nguồn: Diễn Đàn

11.03.2012

Ngày này đúng một năm trước, nhân loại bàng hoàng nghe tin động đất và sóng thần khủng khiếp vừa xảy ra tại vùng bờ biển phía đông Nhật Bản. Chỉ mấy giờ sau, chính phủ Nhật chính thức tuyên bố tình trạng “báo động hạt nhân khẩn cấp” vì nhà máy điện hạt nhân bị hư hại lớn, và tổ chức di tản dân cư ra cách nhà máy hơn 30km…

Sau nhiều đợt đánh giá, lần lữa và dối trá, cuối cùng (một tháng sau) các nhà hữu trách Nhật Bản cũng đã phải xếp tai nạn ở Fukushima vào mức 7, là mức cao nhất trong bậc thang các tai biến hạt nhân của Cơ quan Năng lượng Hạt nhân Quốc tế. Giống như Tchernobyl. Về diễn biến của thảm hoạ này, Diễn Đàn đã đăng hoặc giới thiệu nhiều bài viết của các chuyên gia trong và ngoài nước, chúng tôi mời bạn đọc giở lại các bài sau đây, để nhớ lại : Hoạ vô đơn chí của giáo sư Phạm Duy Hiển, Thảm hoạ ở Fukushima của giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, hay Fukushima, 100 ngày sau của tác giả Tịnh Tâm v.v. Một năm sau, theo các phóng sự mà người ta có thể đọc trên báo chí quốc tế, khu vực nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima vẫn ngổn ngang những công trình bị phá huỷ và vắng bóng người dân, chưa biết tới bao giờ.

Nhìn lại tai nạn khủng khiếp này, làm bật ra cái tất yếu của nó, là việc không thể không làm đối với một chuyên gia trong ngành. Nhất là trong điều kiện nước ta, khi một số nhóm lợi ích gần gũi với chính quyền vẫn đang tích cực bảo vệ chương trình điện hạt nhân của Việt Nam bất chấp hiểm nguy đe doạ sự sống còn của dân tộc, bất chấp mọi lý lẽ khoa học. Diễn Đàn trân trọng cảm ơn giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn đã chia sẻ một vài suy nghĩ, phân tích của anh về đề tài này, thông qua hai bài trả lời phỏng vấn của các đài phát thanh RFA và RFI mà anh gửi bản gốc cho chúng tôi và đồng ý với những đề nghị rút ngắn và biên tập lại của chúng tôi từ hai bài phỏng vấn nói trên (chủ yếu từ bài trên RFA). Nhan đề bài này do Diễn Đàn đặt.

Khu vực nhà máy điện Fukushima hiện nay, bên phải là tổ máysố 4 còn lại

Nguy cơ từ thiên nhiên và từ con người

Từ trước đến nay, các nhà lãnh đạo và các chuyên gia trong lĩnh vực hạt nhân luôn khẳng định là các lò phản ứng phương Tây hết sức an toàn và một Tchernobyl thứ hai không thể nào tái diễn được, nhờ ở sự hiện diện của vỏ bảo vệ (enceinte de confinement) trong các lò PWR hay BWR. Tiếc thay bài học Tchernobyl không được cân nhắc và nghiên cứu tỉ mỉ.

Không thể nói rằng Tchernobyl xảy ra là vì công nghệ và Fukushima vì thiên tai. Sự thật, lỗi của con người trong hai thảm hoạ này rất lớn về thiết kế cũng như về khai thác.

Chúng ta khó hiểu tại sao, sau Hiroshima và Nagasaki đã gây ra hàng trăm ngàn nạn nhân nguyên tử, các kĩ sư Nhật Bản lại phiêu lưu xây dựng các nhà máy điện hạt nhân trên một lãnh thổ nhỏ hẹp mà nguy cơ động đất và sóng thần hết sức cao. Xin phép nhắc lại đây 2 tai biến chính : 1-9-1923, một trận động đất mạnh 7.9° Richter, theo sau bởi sóng thần, đã tàn phá Tokyo và vùng Kanto, làm ít nhất 150 000 người chết ; 17-1- 1995, thành phố Kobe rung chuyển bởi trận động đất mạnh 7.2° Richer, gây ra 6500 nạn nhân.

Bất chấp nguy hiểm thường trực trên đầu, các lobby hạt nhân thế giới vẫn bình thản đặt mục tiêu tăng gấp đôi số lò phản ứng từ nay đến 2035 ! Fukushima đã ngăn chặn tham vọng này.

Xin mời những ai có trách nhiêm trong lĩnh vực hạt nhân bỏ chút thì giờ, chịu khó đọc tác phẩm của nhà báo Wladimir Tchertkoff (Le crime de Tchernobyl, le goulag nucléaire) xuất bản năm 2006. Làm sao không khỏi xúc động khi khám phá ra rằng : 8 triệu người đang sống ở vùng bị nhiễm độc kéo dài hàng trăm năm, nông dân nghèo phải nuốt hằng ngày césium 137 chứa trong thực phẩm. Những bà mẹ vô tình gây nhiễm độc cho con cháu. Những em bé này sẽ lâm nhiều bệnh tật vì chúng được nuôi dưỡng bằng các chất phóng xạ suốt sáng, trưa, chiều tối ! Thường dân vô tội vẫn tiếp tục chết vì ung thư tuyến giáp (nhất là trẻ em nhỏ tuổi), ung thư vú, tiểu đường, bạch cầu…Những lobby hạt nhân đã tìm mọi cách để bóp nghẹt tin tức về tai biến Tchernobyl (một thảm hoạ mở màn cho sự sụp đổ của Liên xô) và che lấp tiếng la hét xót xa đau khổ của những kẻ vô tội còn sống ở trong các vùng bị nhiễm. Theo nhà xã hội học Frédérick Lemarchand, phụ trách Cục rủi ro của đại học Caen (báo Le Monde ngày 19-4-2011), Tchernobyl và Fukushima mở đầu cho loại thảm hoạ kiểu mới, mà loài người chưa bao giờ thử nghiệm, vì nó triển khai trong một thời gian hết sức lâu dài, đồng thời tăng cường với đời sống sinh vật mà nó huỷ diệt. Nó quyết định đời sống sinh vật, xã hội và tâm lý của bao nhiêu thế hệ con người nay chưa sinh nở mà sự tồn tại trong tương lai đã bị hạt nhân đô hộ.

Nhà xã hội học người Anh, Anthony Giddens, khuyên chúng ta nên chia ra làm hai loại nguy cơ : nguy cơ bên ngoài liên quan đến thiên nhiên (lũ lụt, động đất, bão tố…) mà tổ tiên chúng ta đã thừa biết và nguy cơ do chúng ta tạo ra, liên quan đến các hoạt động của con người (ô nhiễm công nghiệp, thay đổi khí hậu, thảm hoạ hạt nhân…). Chúng ta không bao giờ có đủ kinh nghiệm về các loại nguy cơ thứ hai này vì chúng ta đang tạo ra nó và luôn luôn có những thế lực sẵn sàng lấp liếm, cho là do thiên nhiên. Đó là lí do tại sao chúng ta không thể đánh giá được mức độ khủng khiếp của nó và đối mặt với nó được. Sự thiếu năng lực, tham nhũng, tính kiêu ngạo, chưa kể sự dối trá, góp phần nhân rộng và làm tăng các mối nguy cơ này trên thế giới.

An toàn dối trá

Không ai có thể đảm bảo an toàn cho các lò thế hệ 3, 3+ (hay thế hệ 4 sau này). Sau Fukushima, dân chúng Nhật Bản không còn tin tưởng ở các lò điện hạt nhân sản xuất trong nước của họ. Thế mà thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda, đã cả gan cam kết sẽ cung cấp cho Việt Nam một công nghệ bảo đảm mức an toàn hạt nhân cao nhất thế giới ! Nhật Bản đã huỷ bỏ chương trình xây cất thêm 14 lò mà lại đem bán cho ta một cách thiếu lương tâm ! Biết đâu là máy móc dụng cụ tồn kho ?

Tháng 6 vừa qua, một báo cáo đã vạch trần những thiếu sót quan trọng về kỹ thuật cũng như về cách khai thác 32 lò của Nga. Tuy nhiên, ngày 9-2-2012 tại Hà nội, Serge A. Boyarkin, phó tổng giám đốc tập đoàn Rosatom Nga, không ngần ngại tuyên bố rằng nhà máy Ninh Thuận sẽ bảo đảm an toàn, chống được động đất 9° Richter!

Vì cớ gì ta lại tiếp tục nghe luận điệu tuyên truyền dối trá của các con buôn điện hạt nhân Nga và Nhật Bản để cho hai nước này xây dựng những lò đầu tiên ở Ninh Thuận ? André Lacoste, chủ tịch cơ quan an toàn Pháp (Autorité de Sureté Nucléaire) cũng đã nhiều lần lớn tiếng : không ai có thể quả quyết rằng ở Pháp sẽ không có tai biến hạt nhân. Cũng vì lẽ ấy mà EDF sẽ phải xuất ra cấp tốc 10 tỷ euros để củng cố tất cả những nhà máy điện hạt nhân. Vừa rồi tổ chức phi chính phủ Greenpeace đã bố trí cho vài người vào trong khu vực nhà máy điện hạt nhân Nogent sur Seine, trong lúc hai nhân viên khác đã ẩn núp được trong nhà máy Cruas, suốt nhiều tiếng đồng hồ! Greenpeace muốn chứng minh rằng quân khủng bố cũng có thể đột nhập dễ dàng để phá hoại mặc dù có sự canh gác thường trực của một đội lính ở mỗi nhà máy. Ngoài ra, quân đội cũng chuẩn bị sẵn sàng hoả tiễn để đề phòng máy bay oanh tạc.

Fukushima đã cảnh cáo một cách long trời lở đất với bao hình ảnh đau thương như thế mà ta vẫn chưa tỉnh giấc mơ hay sao. Ta chờ đợi một Tchernobyl hay một Fukushima khác rùng rợn hơn mới nhất trí rằng hai chữ an toàn của Nga và Nhật Bản là dối trá? Ta nên đặt câu hỏi, tại sao nước Mỹ, có đủ khả năng và điều kiện, thận trọng nhất nhì về khâu an toàn, lại không xây cất thêm một lò hạt nhân nào khác, từ khi gặp sự cố Three Mile Island đã hơn 30 năm nay? Nhật Bản với một diện tích đất nhỏ hẹp như ta, đã bị tàn phá bởi hai quả bom ở Hiroshima và Nagasaki, thế mà cả gan xây dựng 54 lò ven bờ biển, không sợ động đất và sóng thần! Đó là chiến lược liều mạng, tự huỷ diệt, mà ta không nên bắt chước.

Lúc xảy ra chiến tranh, có nhà máy điện hạt nhân trong nước có thể xem như chứa bom nguyên tử trong mỗi nhà, tuy lò không nổ như bom. Nước ta lại chưa hấp thụ được văn hoá an toàn, chưa có đủ chuyên gia, chưa có hệ thống pháp lý khắc chế, chưa có hậu thuẫn khoa học kỹ thuật để quản lý một loạt nhiều lò phản ứng, làm sao có an toàn được? Phóng xạ, vô biên giới, sẽ bao trùm lãnh thổ trong giây phút, nếu địch tấn công Ninh Thuận, hay có sự sai lầm của nhân viên chưa đủ trình độ. Về địa lý, thời tiết ở Việt Nam bất thường, mỗi năm đều có bão tố, lũ lụt lớn, phá hại mùa màng và gây tang thương cho đồng bào. Bom, mìn, chất độc dioxin vẫn tiếp tục cướp tính mạng của bao thường dân vô tội. Ta đã quên nỗi đau khổ của đồng bào đã chịu đựng bao nhiêu năm chiến tranh hay sao ?

Về mặt luật pháp và an toàn, cần phải thành lập nhiều cơ sở có chất lượng. Cơ quan an toàn hạt nhân phải hoàn toàn độc lập, dựa trên năng lực và sự chặt chẽ khách quan. Fukushima đã cho thế giới thấy sự yếu kém và khiếm khuyết của các cơ quan có trách nhiệm. Cơ quan an toàn hạt nhân Nhật Bản đã bị áp lực trực tiếp của chính phủ và các ngành công nghiệp có liên quan và do đó đã có nhiều hành động và tuyên bố sai trái trong vụ Fukushima.

Địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận không nằm ngoài những bất thường thời tiết (lũ lụt, bão lụt, động đất, sóng thần…). Vài trận động đất lớn (6,8° Richter) đã diễn ra, năm 1935 tại Điện Biên và năm 1983 tại Tuần Giáo. Ta không có một cơ quan an toàn hạt nhân độc lập để nghiên cứu sâu những yếu tố hiểm nguy như thế. Các quan chức hữu trách trong chính phủ toàn quyền muốn nói gì thì nói. Cứ tiếp tục như vậy thì Ninh Thuận rồi sẽ trở thành một Fukushima, lúc ấy sợ rằng hối không kịp.

Những kinh phí phức tạp, khổng lồ

Để các cơ quan trách nhiệm Việt Nam có một ý niệm về bài toán kinh tế rất phức tạp và kinh phí khổng lồ cần thiết, tôi xin phép vắn tắt trình bày phương pháp và mạch lạc giữa các khâu với những con số của tập đoàn EDF vì tôi đã làm việc ở công ty này suốt 30 năm trời.

Các nhà máy điện hạt nhân, từ thiết kế đến vận hành, từ khai thác đến bảo dưỡng, cần một công nghệ cực kì tinh xảo và tốn kém.

Chi phí đầu tư, theo giá cố định tại một thời điểm quy ước, bao gồm chi phí trực tiếp từ 75% đến 80% (xây dựng, thiết bị, lắp ráp, thử nghiệm…) và chi phí gián tiếp từ 20% đến 25% (đất đai, chủ thầu, hành chính…). Sự giảm chi phí này chỉ có thể đạt được nếu xây dựng lớn, hàng loạt hoặc xây nhiều nhà máy tại cùng một nơi. Cần phải tính đến lãi suất phát sinh lớn (intérêts intercalaires) bởi thời gian xây dựng nhà máy điện hạt nhân (ít nhất từ 5 đến 7 năm) tương đối dài hơn nhà máy chạy than (3 đến 4 năm) hay khí (2 đến 3 năm). Chi phí đầu tư tổng cộng còn phải tính đến chi phí tháo gỡ hay phá huỷ tính vào thời điểm đưa vào vận hành (giá trị thấp vì khoảng cách thời gian lớn).

Chi phí của chu trình nhiên liệu (cycle du combustible) phải tính đến, ngoài thời gian trong lò phản ứng, phần trước (lấy uranium dưới dạng U3O8, biến đổi UF4 và UF6 thành uranium làm giàu, làm giàu uranium, sản xuất các thanh nhiên liệu) và phần sau (vận chuyển các bộ lắp ghép phóng xạ, tái chế nhiên liệu, vận chuyển và lưu trữ chất thải phóng xạ, tín dụng tái chế (crédits de retraitement). So với khí, phần nhiên liệu hạt nhân trong mỗi kWh điện thấp hơn nhiều, 20 – 25% thay vì 70%.

Chi phí khai thác và bảo dưỡng, chiếm từ 15% đến 25% trong chi phí một kWh điện hạt nhân, bao gồm chi phí vận hành, nhân công, bảo trì, hành chính, thuế, bảo hiểm, bảo vệ bức xạ, xử lí chất thải.

Cũng cần tính đến chi phí bên ngoài (externalités) như CO2, tai nạn, thải chất phóng xạ, rất khó đánh giá. Ngoài chi phí môi trường, người ta còn phân biệt chi phí bên ngoài liên quan đến độc lập năng lượng, kinh tế hoặc chính trị…

Chi phí tháo gỡ một nhà máy điện hạt nhân trên lý thuyết chiếm 25% đến 40% chi phí đầu tư. Trên thực tế, chi phí này có thể lên tới và thậm chí vượt quá 100%. Đó là trường hợp nhà máy nước nặng (70 MW) Brennilis của EDF đang được phá huỷ từ 20 năm nay mà vẫn chưa xong. Chi phí dành cho nhà máy này đă lên quá 500% con số dự trù ! Về kinh phí dành cho công trình tháo gỡ, EDF đưa ra con số tạm thời là 300 triệu euros cho mỗi lò. Ở Đức con số lên đến 852 triệu euros. Lẽ cố nhiên, tháo gỡ một lò bị hư hỏng nặng như Fukushima cần nhiều tiền hơn, khoảng 2,7 tỉ euros (cao hơn giá đầu tư xây cất).

Theo báo cáo ngày 31-1-2012 của Toà Kiểm toán (Cour des Comptes) Pháp, tổng kinh phí đầu tư trong lĩnh vực hạt nhân dân sự Pháp từ 1957 đến 2010 lên đến 228 tỉ euros, trong đó những nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động chiếm 96 tỉ, chu trình nhiên liệu 40 tỉ, khâu nghiên cứu 55 tỉ (gồm lò ASTRID – Advanced Sodium Technological Reactor for Industrial Demonstration).

Trung bình mỗi MW thiết kế trị giá là 1,5 triệu euros (tức 2000 đôla mỗi kW) so với 3,7 triệu euros mỗi MW thiết kế của lò EPR. Như thế có nghĩa là năng lượng gió trên đất (1,45 triệu euros mỗi MW) ở Pháp đã bắt đầu cạnh tranh được với điện hạt nhân.

Kinh phí khai thác tổng quát năm 2010 (gồm nhiên liệu uranium, nhân viên, thuế má…) lên đến 8,95 tỉ euros (tức là 22 euros mỗi MWh) với một sản lượng điện hạt nhân là 407, 9 TWh.

Giá kinh tế (coût courant économique) mỗi MWh điện hạt nhân là 49,50 euros với giả thuyết một tỉ suất hiện tại hoá (taux d’actualísation) là 5% và tỉ số lạm phát 2%. Trong tương lai gần đây giá điện EDF sẽ tăng lên ít nhất là từ 10% đến 15%. Dùng giá kinh tế dễ so sánh các dạng năng lượng khác nhau dễ hơn là với giá kế toán (coût comptable).

Kinh phí đầu tư hàng năm từ đây đến 2025 cho việc bảo dưỡng những nhà máy là 3,7 tỉ euros (so với 1,5 tỉ từ 2008 đến 2010). Nếu kéo dài thời gian vận hành 58 lò từ 40 năm đến 60 năm, EDF phải đầu tư thêm 50 tỉ euros chưa kể ít nhất 10 tỉ euros bỏ ra để củng cố an toàn sau Fukushima. Kinh phí mà EDF dành cho việc xử lí 18546 tấn nhiên liệu sử dụng trong các lò là 14,4 tỉ euros. Những tấn nhiên liệu này hiện ở trong các nhà máy EDF hoặc ở La Hague để AREVA tái chế. Mỗi năm AREVA tái chế 1050 tấn. Pháp hiện đang tích trữ 82 tấn Plutonium.

Toà Kiểm toán rất dè dặt, không đồng ý với những con số của EDF đưa ra cho hai khâu tháo gỡ (18,4 tỉ euros) và lưu trữ chất thải phóng xạ (23 tỉ euros) quá thấp so với ngoại quốc. Con số 18,4 tỉ euros này nếu tính theo Mỹ thì sẽ lên đến 34, 2 tỉ, Nhật Bản 38,9 tỉ, Anh 46 tỉ và Đức 62 tỉ euros.

Đứng về phương diện pháp lý, khi có sự cố ở Âu Châu, trách nhiệm dân sự (responsabilité civile) tuy được ghi rõ trong các thoả ước Paris 1960 và Bruxelles 1963, nhưng cách áp dụng còn lu mờ. Trên lý thuyết, công ty khai thác nhà máy điện hạt nhân phải bồi thường nạn nhân. EDF chỉ dự trù 80 triệu cho mỗi sự cố, một con số tượng trưng quá nhỏ! Rốt cuộc, nhà nước cũng phải đứng ra bồi thường nạn nhân nếu xảy ra tai biến lớn. Sự thật, nếu phải bảo hiểm tất cả những nhà máy điện hạt nhân thì phải cần một số tiền khổng lồ và như thế chẳng nước nào dám xây cất ! Đó là trái bom tài chánh nổ chậm của ngành hạt nhân dân sự. Thảm hoạ Fukushima đã làm nước Nhật mất ít nhất 100 tỉ euros, chưa kể hàng trăm tỉ dành cho phần bồi thường nạn nhân. Có thể một ngày gần đây TEPCO sẽ bị quốc hữu hoá.

Nếu xem xét tổng thể : điện hạt nhân không thể kinh tế được

Trong trường hợp của Việt Nam, về mặt kinh tế vĩ mô, cần phải tính đến ảnh hưởng của điện hạt nhân đến sự phát triển kinh tế, tỉ số đầu tư trên dự trữ quốc gia, cải thiện (hay không) cán cân thương mại, sức cạnh tranh kinh tế, sự đảm bảo cung cấp, sự giảm chi phí năng lượng, tạo ra công ăn việc làm, ảnh hưởng xã hội (dân chúng có chấp nhận không ?)

Cơn khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay có nguy cơ gây nên những vấn đề nghiêm trọng về nguồn vốn nhất là khi PIB có hướng giảm và lạm phát tăng.

Ở Việt Nam, việc hoạch định chính sách năng lượng không thật sự chặt chẽ và không khả thi về mặt tài chính. Ta quá chú trọng đến điện lực mà không nghiên cứu tỉ mỉ toàn bộ lĩnh vực kinh tế năng lượng. Tiêu thụ điện của nước ta không thể đạt được con số 537 TWh (kịch bản trung bình) vào năm 2030 như đã công bố ! Con số này cao hơn lượng tiêu thụ của Pháp hiện nay. Không một nước nào trên thế giới có thể chạy theo con số tăng trưởng điện năng chóng mặt là 15% mỗi năm. Điều này có nghĩa là cứ 5- 6 năm phải tăng gấp đôi công suất của tất cả các nhà máy và lưới điện. Với PIB 6%, hệ số đàn hồi của ta là 2,5 một con số cao nhất nhì thế giới, chứng tỏ tiềm năng tiết kiệm năng lượng của ta rất lớn. (Xin mời các bạn xem các bài của Giáo sư Phạm Duy Hiển)

Khả năng sinh lợi của nhà máy điện hạt nhân phải được trình bày rõ ràng. Tỷ suất hiện tại hoá (taux d’actualisation) là bao nhiêu trong bài toán kinh tế ? Mức lãi suất phát sinh là bao ? Phương pháp nào để lựa chọn tối ưu các thiết bị sản xuất ? Khi mà dự báo bị thổi phồng quá mức, thật khó để điều chỉnh cân bằng giữa cung và cầu ! Sự hợp lí trong các lựa chọn phải được chứng minh và bài toán tài chính phải kể đến chi phí gây ra bởi sự sụp đổ bất ngờ của hệ thống điện (coût de la défaillance).

Khi xem xét tổng thể các khâu và nếu ta tính thêm vào chi phí dành cho chuyên gia, thiết bị, uranium làm giàu nhập cảng từ nước ngoài, chi phí xử lí nhiên liệu, lưu trữ chất thải phóng xạ và chi phí tháo gỡ khổng lồ hàng chục tỷ đôla (chi phí dự trù cho việc tháo gỡ 5 lò ở Thụy Sĩ lên đến 23 tỷ đôla), tôi khẳng định rằng điện hạt nhân Việt Nam không thể nào kinh tế được. Chọn năng lượng hạt nhân với một chương trình đầy tham vọng và phiêu lưu (8 lò phản ứng từ năm 2014 đến 2031) là một lỗi lầm hết sức lớn về mặt chiến lược kinh tế và công nghiệp. Ai đứng ra chịu trách nhiệm đối với đất nước và các thế hệ mai sau ?

Nếu có một chính sách rõ ràng, quyết tâm khuếch trương mạnh và nhanh chóng năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả năng lượng, trữ lượng tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam như than, khí đốt, dầu mỏ, thuỷ điện, gió, mặt trời sinh khối… cho phép đảm bảo nhu cầu của quốc gia trong nhiều năm tới.

Điện Hạt Nhân là Điện Hại Nước, Điện Hại Nhân

Đầu tư vào hạt nhân là đầu tư dài hạn, không phải muốn đi ra lúc nào cũng được. Ngày 2-7-2011, ở hội nghị đảng xã hội quốc tế tổ chức tại Athènes, bà Mizuho Fukushima, lãnh đạo đảng xã hội Nhật Bản, đã lên tiếng kêu gọi thế giới từ bỏ điện hạt nhân. Bà đề nghị Nhật Bản rút khỏi điện hạt nhân năm 2020 và sử dụng 100% năng lượng tái tạo vào năm 2050. Chính bà cũng đã yêu cầu chính phủ Việt Nam không nên mua lò phản ứng của nước bà vì thiếu an toàn. Dân chúng cũng đã biểu tình ở Tokyo phản đối việc bán lò cho nước ta. Chính phủ Nhật Bản đã có quyết định huỷ bỏ dự án xây cất thêm 14 lò.

Nếu ta cứ bịt tai che mắt, phung phí đồng tiền, không sợ mất thì giờ, không thấy nguy biến, coi nhẹ tính mạng đồng bào, cứ táo bạo làm điện hạt nhân thì đất nước ta có thể tiêu tàn khi phóng xạ bao trùm lãnh thổ!

Lý luận rằng bắt buộc phải làm điện hạt nhân vì ta thiếu điện, không có phương án nào khác là hoàn toàn không đứng vững. Tại sao không cấp tốc đầu tư vào các nguồn thuỷ điện, khí, than, gió, mặt trời, sinh khối, ít tốn kém, xây cất nhanh và tạo nhiều công ăn việc làm hơn cho đồng bào ? Tại sao không triệt để tiết kiệm và tăng gia hiệu suất năng lượng ? Vì nhiều trục trặc lúc mới khai thác, trung bình 2 lò 1000 MW của Ninh Thuận sẽ sản xuất mỗi năm tối đa là 8 hay10 TWh, con số xem như tương đương với lãng phí. Chẳng lẽ xây lò phản ứng để đáp ứng nhu cầu vứt tiền ra cửa sổ ?

Đừng quên rằng trên thế giới năng lượng tái tạo đang đươc bành trướng hết sức mạnh mẽ và giá thành kWh mỗi ngày một hạ thấp. Chúng ta phải có chiến lược với tầm nhìn thật xa, đến năm 2050 chẳng hạn. Năm 2020, lúc ta bắt đầu có điện hạt nhân thì năng lượng tái tạo đã kinh tế !

Vì cớ gì ta phải đi vay hàng chục tỷ đôla (10 tỷ cho 2 lò đầu tiên ở Ninh Thuận và vài chục tỷ khác cho 6 lò nối tiếp) để vứt ra cửa sổ ? Không những ta sẽ để món nợ khổng lồ cho con cháu trả mà còn tặng thêm cho chúng chất thải phóng xạ ngàn đời nhiễm độc ! Đó là chưa kể hàng trăm tỷ đôla phải xuất ra nếu có một thảm hoạ lớn xẩy ra trong nước.

Theo cá nhân tôi, Điện Hạt Nhân là Điện Hại Nước, Điện Hại Nhân ! Việt Nam đi lùi 50 năm (vì điện hạt nhân bắt đầu vào những năm 1950 và cất cánh vào năm 1960), sẽ kẹt một thế kỷ mà không biết (50 năm vận hành, 50 năm tháo gỡ) và sẽ bị chậm trễ, không đuổi kịp chiếc tàu năng lượng tái tạo thế giới mà kinh phi đầu tư đã lên đến 200 tỷ euros trong năm 2010.

Vì sự sống còn của đất nước, một lần nữa tôi thiết tha yêu cầu chính phủ Việt Nam huỷ bỏ ngay chương trình xây dựng những nhà máy điện hạt nhân hết sức tốn kém và vô cùng nguy hiểm để Ninh Thuận khỏi trở thành Fukushima.

Tôi cũng tha thiết yêu cầu chính phủ Nhật Bản đừng cho phép các công ty bán lò cho Việt Nam để uy tín đối với thế giới khỏi sứt mẻ và cũng để tránh cho dân chúng Nhật Bản oán hận một lần thứ hai (xin đọc thư của Giáo sư Phạm Duy Hiển gửi ngày 24-1-2011 cho Thủ tướng Naoto Kan). Tôi sẵn sàng thảo luận với bất cứ chuyên gia nào để chứng minh rằng không thể có an toàn và giá điện hạt nhân ở Việt Nam sẽ đắt hơn giá năng lượng tái tạo.

Nhân ngày kỉ niệm năm đầu tiên của thảm hoạ Fukushima, tôi thành kính nghiêng mình, cầu nguyện và tưởng nhớ đến những nạn nhân vô tội và những Anh hùng Nhật Bản đã phải hy sinh trong nhà máy, do sự điên cuồng của một nhóm người có thế lực, nhưng thiếu tinh thần trách nhiệm, coi nặng đồng tiền hơn là tính mệnh con người !

Grenoble 11-3-2012
Nguyễn Khắc Nhẫn,

Nguyên Cố vấn Nha kinh tế, dự báo, chiến lược EDF Paris,

GS Trường Đại học Bách khoa Grenoble,

GS Viện kinh tế, chính sách năng lượng Grenoble.

Điện hạt nhân ở Nhật – họa vô đơn chí

by Phạm Duy Hiển — Cập nhật : 17/03/2011 14:27

…Thế đấy! Không có một biên giới nào cho an toàn tuyệt đối trong điện hạt nhân cả. Lò phản ứng thế hệ nào cũng vậy, chỉ có xác suất xảy ra thảm họa khác nhau ít nhiều thôi. Cái gì do con người làm ra đều có thể bị phá đi, bởi thiên nhiên, bởi con người và nhất là bởi cả hai cùng hiệp lực. Thảm họa thiên nhiên không chỉ có động đất, chúng muôn hình vạn trạng…

GS Phạm Duy Hiển 

(nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt)

 

Trận động đất 8.9 độ richter lúc 3 giờ chiều ngày 11/3 khiến các nhà máy điện hạt nhân trên đất Nhật tự động dập lò, chấm dứt tức khắc phản ứng dây chuyền bên trong các lõi lò phản ứng. Nhưng các lõi lò vẫn còn rất nóng, bởi nhiệt tỏa ra do bức xạ gamma từ vô số mảnh vỡ phân hạch được tích lũy nhiều năm bên trong các bó nhiên liệu. Nếu không kịp thời tải lượng nhiệt này đi (bằng 6% công suất lò), các bó nhiên liệu sẽ bị nóng chảy, chất phóng xạ sẽ thoát ra nước tuần hoàn vốn được dùng để tải nhiệt và làm chậm nơ trôn khi lò hoạt động bình thường.

 Sơ đồ hoạt động của một lò phản ứng hạt nhân – Đồ họa: NHƯ KHANH

Nhưng đây chưa phải là trạm dừng chân cuối cùng của các chất phóng xạ. Tuy làm bằng thép không gỉ rất dày, nhưng nếu thùng lò, nền móng bên dưới và các đường ống dẫn ra bên ngoài bị nứt hoặc hư hại do động đất, chất phóng xạ sẽ thoát ra ngoài nhà lò và từ đó tiếp tục hành trình ra môi trường khí và nước, gây ô nhiễm phóng xạ cho cả khu vực xung quanh. Liên tiếp trong bốn ngày qua, cả nước Nhật phải vật lộn với những con quái vật ấy để bắt nó phải nằm yên tại trạm dừng chân thứ nhất.

Để cảm nhận được việc này khó khăn dường nào, ta nên tìm hiểu qua nguyên tắc hoạt động của các lò nước sôi (BWR) khá phổ biến ở Nhật, và đang bị trận động đất quật ngã trong mấy ngày qua (xem sơ đồ). Lõi lò, gồm các bó nhiên liệu (2) và thanh điều khiển (3), được tải nhiệt và làm chậm nơtrôn bằng nước nguyên chất sôi ở 285oC dưới áp suất 75 atm nhờ hệ thống tuần hoàn (5). Hơi nước (4) sau khi qua hệ thống tuabin (6, 7, 9, 10) được ngưng tụ (8) để từ đó quay lại vòng tuần hoàn làm nguội lõi lò. Bộ phận ngưng hơi cần phải được làm nguội (11), nhưng bằng nước thường.

Nguyên lý an toàn của các lò phản ứng là làm sao các chất phóng xạ được nhốt chặt lại bằng nhiều lớp tường thành kiên cố, nếu lớp trước bị chọc thủng thì còn có lớp sau. Lớp thứ nhất là vỏ bọc các bó nhiên liệu (2). Nếu bức tường thành này bị thủng, chất phóng xạ sẽ thoát ra bên ngoài, nhưng sẽ bị nhốt lại bên trong bức tường thành thứ hai, đó là thùng lò bằng thép không gỉ (1) đủ dày để chống chịu áp lực và nhiệt độ cao. Nhà lò chứa thùng lò và hệ thống tuabin, máy phát (xem sơ đồ) có thể xem là bức tường thành thứ ba. Khi lò hoạt động, nước và hơi bị nơtrôn kích hoạt trở nên phóng xạ, do đó nhà lò, và đặc biệt hệ thống tuabin, phải có tường bêtông đủ dày (12) để cản xạ.

Nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) Fukushima I gồm 6 lò nước sôi, trong đó chỉ có ba lò 1, 2 và 3 đang hoạt động trước khi động đất xảy ra. Lò thứ nhất công suất 440 mêgaoát là một “ông lão” đang có kế hoạch nghỉ hưu vào tháng tư này sau 40 năm hoạt động. Nhưng nó vừa bị quật ngã nặng nhất. Động đất và mất điện lưới đã đánh gục hoàn toàn hệ thống bơm tải nhiệt và cả hệ thống làm nguội khi có sự cố. Các nhân viên vận hành lúc này phải nghĩ đến máy diesel dự phòng.

Nhưng họa vô đơn chí! Con đê chắn kiên cố phía bờ biển bị sóng thần phá vỡ, nước biển tràn vào nhà làm ngập gian nhà chứa máy diesel, nó chỉ chạy được chưa đầy một giờ rồi lịm hẳn. Nhà máy còn có hệ thống ắc quy dự phòng, nhưng chỉ đủ điện cho các hệ thống điều khiển và chiếu sáng hạn chế. Máy phát điện lưu động được điều đến trong vòng 13 giờ sau đó, nhưng không kết nối được vào các thiết bị của nhà máy bởi tầng hầm chứa các tủ điện bị ngập nước do sóng thần.

Lúc này bên trong thùng lò nước tiếp tục sôi, nhưng hệ thống ngưng hơi và bơm nước không hoạt động khiến hơi cứ đầy lên, áp suất hơi bên trong thùng lò tăng cao mà pha nước lại vơi nhanh làm nhiệt độ các bó nhiên liệu tăng cao do chúng bị phơi trơ ra khỏi mặt nước. Phải kiềm chế quá trình này, nếu không, toàn lõi lò sẽ tan chảy (melt down), một hiện tượng được xem như cơn ác mộng kinh hoàng nhất đối với những ai quản lý lò hạt nhân. Chỉ còn cách xì bớt hơi ra nhà lò để giảm áp suất bên trong thùng lò, đồng thời dùng bơm cứu hỏa, công cụ cuối cùng khả dĩ lúc này, để bơm nước biển vào thùng lò làm nguội các bó nhiên liệu. Axít boric được pha vào nước biển để hấp thụ nơtrôn, phòng khi phản ứng dây chuyền xảy ra.

Quyết định này là một sự đánh đổi táo bạo trong tuyệt vọng. Bơm nước biển vào lò chẳng khác nào khai tử lò phản ứng, bởi chlo sẽ làm mọi thứ bên trong gỉ rất nhanh. Nhưng đổi mạng sống của một “ông lão về hưu” để tránh thảm họa cho nhiều người xem ra còn “dễ quyết” hơn là làm cho các nhân viên vận hành và dân chúng bên ngoài bị nhiễm xạ khi xì hơi nước có chứa phớng xạ ra nhà lò. (Thật ra, chôn cất cái xác lò này rất không đơn giản, nhưng việc này rồi sẽ hạ hồi phân giải!).

Trên thực tế, phóng xạ ở buồng điều khiển lên cao gấp nghìn lần so với mức bình thường. Sáng 12/3, mức phóng xạ trong nhà chứa máy tuabin lên quá cao buộc lãnh đạo nhà máy phải xì tiếp ra môi trường. Mức phóng xạ đo được ở cổng nhà máy đã tăng lên hơn mười lần sau 40 phút, trước đó nhà chức trách đã phải phát lệnh di tản dân chúng khẩn cấp. Lúc này thông tin đáng chú ý nhất là phát hiện thấy hai sản phẩm phân hạch trong không khí xung quanh khu vực lò, đồng vị xêsi (Cs-137, Cs-134) và iốt (I-131).

Vậy là vỏ bọc nhiên liệu đã bị hỏng! Lõi lò đã bị tan chảy một phần. Nhà chức trách đã bắt đầu phân phát muối kali iốt để giảm nguy cơ iốt phóng xạ xâm nhập vào tuyến giáp. Máy bay trực thăng của quân đội Mỹ lượn cách nhà máy 60 dặm phát hiện ra xêsi phóng xạ, nhận được lệnh quay trở về ngay căn cứ để tẩy xạ. Các hãng thông tấn cảnh báo tính độc hại của xêsi phóng xạ. Thật ra, ngoài xêsi phóng xạ còn nhiều sản phẩm phân hạch khác độc hại hơn như stronxi (Sr-92), song không dễ phát hiện như xêsi và iốt. Cả xêsi và stronxi đều sống rất lâu, sau 30 năm chỉ phân hủy một nửa.

Lúc 3 giờ chiều ngày 12/3 một vụ nổ đã xảy ra, sự kiện không nằm ngoài dự đoán của các chuyên gia ngoài cuộc theo dõi trên truyền hình. Vụ nổ đã làm tung mái nhà lò do khí hyđrô xì ra từ bên trong thùng lò kết hợp với ôxy trong không khí. Vụ nổ đã cung cấp thêm một minh chứng nữa cho thấy vỏ bọc nhiên liệu làm bằng hợp kim zircaloy đã bị thủng do ziacôn (Zr) phản ứng với nước ở nhiệt độ rất cao. Phản ứng này tạo ra khi hydrô bên trong thùng lò. Vụ nổ càng làm tăng thêm lượng chất phóng xạ tung ra môi trường. Còn nhớ, kịch bản này đã xảy ra ở Chernobyl cách đây gần đúng 25 năm, khi đó một vụ nổ khí hyđrô đã xảy ra trước khi toàn lõi lò bị nổ gieo rắc chất phóng xạ ra khắp Bắc bán cầu. May ra chuyện tồi tệ này dường như không lặp lại ở đây. Có vẻ như lò số 1 chưa bị melt down hoàn toàn.

Hai ngày sau, 14/3, vụ nổ hyđrô tương tự lại xảy ra ở lò phản ứng số 3 của nhà máy. Lò này vừa mới nạp loại nhiên liệu mới MOX chứa cả chất plutonium (Pu). Nếu nhiên liệu bị nóng chảy và phóng xạ thoát ra môi trường thì tác hại còn đáng sợ hơn nhiều, bởi Pu rất độc và sống lâu hàng nghìn năm. Hôm nay, 15/3, lò phản ứng số 2 cũng chịu số phận như hai lò trên, và mọi người đang lo việc gì sẽ xảy ra. Hình như tình hình ở đây có thể tồi tệ hơn bởi có thông tin cho biết nước đã cạn trong thùng lò. Cầu mong cho điều tồi tệ nhất đừng xảy ra.

Lại có thông tin mức phóng xạ đang dâng lên trong môi trường. Chắc nhiều người sẽ hỏi liệu phóng xạ có lan đến Việt Nam không? Từ ngày 12 đến hôm nay (15/3), và dự báo cho ba ngày tới, các khối khí xuất phát từ Fukushima luôn di chuyển về phía đông và bắc, tránh Việt Nam. Khi nào gió chuyển hướng Tây Nam, khí phóng xạ có thể lan đến Việt Nam sau 4-5 ngày, lượng phóng xạ trong không khí đến Việt Nam từ Nhật Bản sẽ giảm đi nhiều vì chúng di chuyển trong tầng khí quyển thấp (khác với trường hợp Chernobyl 25 năm về trước khi vụ nổ “hạt nhân” đã tung chất phóng xạ lên tận tầng bình lưu và đã lan đến Việt Nam).

Thế đấy! Không có một biên giới nào cho an toàn tuyệt đối trong điện hạt nhân cả. Lò phản ứng thế hệ nào cũng vậy, chỉ có xác suất xảy ra thảm họa khác nhau ít nhiều thôi. Cái gì do con người làm ra đều có thể bị phá đi, bởi thiên nhiên, bởi con người và nhất là bởi cả hai cùng hiệp lực. Thảm họa thiên nhiên không chỉ có động đất, chúng muôn hình vạn trạng. Những chuyên gia Nhật giỏi giang chắc chắn đã tính toán rất nhiều kịch bản cho các lò phản ứng nằm trên vành đai động đất của họ chứ? Nhưng sao họ lại đặt máy phát diesel dưới tầng hầm, mà giờ đây xem ra lại làm cho họa vô đơn chí! Đủ thấy con người quan trọng dường nào trong khống chế thiên tai.

Đây chưa phải là lúc bàn đến chuyện điện hạt nhân ở Việt Nam. Ưu tiên hiện nay là cần phải hiểu đầy đủ và đúng bản chất những gì đang và sẽ xảy ra với các nhà máy đang bị quật ngã đến tàn phế này. Khó lắm, bởi qua nhiều chuyện mới lạ, ngay giới chuyên gia chưa hề trải nghiệm, lại không đủ thông tin đầy đủ và đáng tin cậy để tính toán. Không trách người Nhật về chuyện này được. Mong sao những sự kiện vừa qua giúp những người có trách nhiệm học hỏi và thức tỉnh, khi chưa muộn.

P. D. H.

Bản do tác giả gửi, đã đăng trên Bauxit Việt Nam 

 

Thảm hoạ ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima

by Nguyễn Khắc Nhẫn — Cập nhật : 19/03/2011 18:46

Cũng như Tchernobyl, Fukushima đang đánh tiếng chuông long trời lở đất. Tôi hy vọng rằng nó sẽ làm lay chuyển lương tâm của những nhà khoa học hay chính trị gia thiếu tinh thần trách nhiệm đối với nhân loại nói chung và đối với dân với nước của họ nói riêng.

Nguyễn Khắc Nhẫn

 

Diễn biến

Trận động đất hết sức lớn (8,9° Richter – đã làm xê dịch đảo Honshu của nước Nhật 2,4 m về hướng đông theo Viện địa chất Mỹ USGS) và sóng thần kinh khủng tại vùng đông bắc Nhật Bản ngày 11/3/2011 đã gây ra thảm hoạ đang diễn biến tại nhà máy điện hạt nhân tỉnh Fukushima (cách Tokyo 250 km về phía Bắc).

Về số lò điện hạt nhân, Nhật Bản đứng thứ ba với 55 lò (tỷ lệ điện hạt nhân là 35%) sau Pháp 58 lò (78%) và Mỹ 104 lò (20%).

Nhà máy Fukushima Daiichi có 6 lò phản ứng (trong số đó, các lò 4-5-6 ngừng vận hành trước trận động đất vì đang được kiểm tra) và nhà máy Fukushima Daini cách đó 10 km có 4 lò phản ứng. Các lò Daiichi được xây cất vào đầu những năm 70 và các lò Daini vào những năm 80 bởi các Công ty General Electric, Toshiba và Hitachi. Kiểu lò nước sôi BWR (Boiled Water Reactor) này rất phổ biến ở Nhật khác với kiểu lò nước áp suất PWR (Pressurized Water Reactor) thông dụng trên thế giới, đặc biệt ở Pháp . Hai kiểu lò này tương đối an toàn hơn lò nhà máy Tchernobyl RBMK (Reaktor Bolchoi Mochtchnosti Kanalni) của Ukraine vì có tường bêtông bọc lò rất dày (enceinte de confinement) để ngăn cản phóng xạ thoát ra ngoài.

Ngày 11/3, ngay sau trận động đất xảy ra, các lò phản ứng ở Fukushima tự động ngưng hoạt động. Tuy nhiên, hệ thống làm lạnh cần phải tiếp tục làm việc để giảm nhiệt độ rất cao trong lò. Không may, trận động đất đã làm tê liệt hệ thống cung cấp điện cho nhà máy điện hạt nhân. Các máy phát điện dự phòng diesel được khởi động để cung cấp điện cho hệ thống làm lạnh nhưng chỉ một tiếng đồng hồ sau, tất cả 13 máy dự phòng này đều hỏng do sóng thần tràn vào. Nhà máy được thiết kế để chống sóng thần, nhưng mức nước lên cao quá 10 m !

Thiếu hệ thống làm lạnh lò phản ứng, hơi nước sinh ra nhiều và làm tăng áp suất trong lò (840 kPa, gấp đôi mức bình thường). Hệ thống giảm áp tự động (ADS) chắc bị hỏng. Dù đã cố gắng xả hơi vào các không gian rộng hơn của nhà máy và kể cả xả ra ngoài không gian, TEPCO (Công ty Điện lực Tokyo) cũng không thành công trong việc làm giảm áp suất. Vào lúc 15h36 ngày 12/3 (giờ địa phương), một vụ nổ vì khí hydro đã xảy ra tại toà nhà lò phản ứng số 1 (440 MW) của nhà máy Fukushima Daiichi. Vụ nổ làm tung bay một phần toà nhà, nhưng lò phản ứng và tường bọc lò chưa bị thiệt hại. Tuy nhiên, cơ quan an toàn hạt nhân của Nhật thừa nhận rằng một phần tâm lò phản ứng (chứa các thanh nhiên liệu) đã bị nóng chảy. TEPCO quyết định bơm nước biển vào lò, để tránh các thanh nhiên liệu bị nóng chảy hoàn toàn. Biện pháp tuyệt vọng này, xem như hy sinh các lò sắp được hưu trí, vì nước biến sẽ làm gỉ vật liệu nhanh chóng. Để đối phó với sự cố xảy ra đối với tâm lò phản ứng, cần tiến hành theo ba bước sau : làm ngưng hoạt động lò phản ứng (được thực hiện) làm lạnh lò, và ngăn không cho chất phóng xạ thoát ra ngoài. Với những gì đã xảy ra thì việc thực hiện ở bước thứ hai và bước thứ ba đều không thành công. TEPCO đã kêu gọi cơ quan nguyên tử quốc tế (IAEA) và chuyên gia Mỹ đem nước làm lạnh đặc biệt mà vẫn không có kết quả khả quan.

Vấn đề tương tự cũng xảy ra đối với lò phản ứng số 3 (760 MW) thuộc nhà máy Fukushima Daiichi. Và sự lo ngại này đã thực sự đến khi xảy ra hai vụ nổ tại lò phản ứng này trong ngày 14/3. Như ở lò số 1, hydro được sinh ra do tương tác với vỏ thanh nhiên liệu. Zr nóng trên 1200°C, với nước tạo ZrO2, tỏa ra 6500kj/kg Zr. Khối lượng H2 sinh ra trong lò nước sôi có thể gấp đôi so với lò áp lực ! Các chuyên gia Nhật chưa cho biết số thanh nhiên liệu bị nóng chảy và cách phân bố trong lò. Trong trường hợp thủng lò, nhiên liệu nóng chảy vì nhiệt độ rất cao (trên 1500°- 2000°) có thể làm vỏ bọc lò bị nứt, để phóng xạ lan ra ngoài. Hiện tượng này đã được Đại học California nghiên cứu từ năm 1985. Cũng như lò phản ứng số 1, vỏ bọc lò phản ứng số 3 hình như vẫn chưa bị ảnh hưởng quan trọng.

Tuy nhiên, mối lo ngại lớn nhất lại nằm ở lò phản ứng số 2 của nhà máy này dùng nhiên liệu Mox có plutonium rất độc. Mực nước trong lò phản ứng đã xuống rất thấp, điều này làm tăng nguy cơ tâm lò phản ứng bị nóng chảy. Các thanh nhiên liệu dài 3,71 m không được nước che lấp trên 3 m ! Thậm chí, sau vụ nổ ở lò phản ứng số 3, TEPCO đã lo ngại không còn khả năng làm lạnh cho lò số 2.

Ngày 15/3 đến lượt lò số 2 bị nổ ! Đồng thời ở lò số 4, hồ (piscine) chứa các thanh nhiên liệu của 2 tâm lò đã sử dụng bị cháy! Hai lò 5 và 6 cũng đang có vấn đề vì độ nóng lên cao. Ngày 17/3 TEPCO buộc phải sử dụng trực thăng lớn để đổ nước biển pha với Axít boric xuống nhà máy. Axít boric có đặc tính hấp thụ nơtrôn để tránh phản ứng dây chuyền có thể xảy ra. Mức phóng xạ cao nên phi công không thể hạ xuống dưới 150 m. Nếu cần 1000 tấn mới đủ, các trực thăng sẽ phải quay vòng trên nhà máy 130 lần !

Hôm nay với các xe cứu hỏa, Tepco muốn sử dụng « canon à eau » với hy vọng che ngập khối thanh nhiên liệu đang bốc sôi trong lòng hồ nước để không cho phóng xạ thoát ra ngoài trời.

Tình hình hiện nay tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima vô cùng nguy hiểm. Không riêng gì lò số 3 mà cả nhà máy có thể xem như không thể điều khiển được nữa ! Trong số đội ngũ 800 nhân viên phụ trách vận hành chỉ còn 50 người hy sinh tính mạng phải ở lại.

Tất cả mọi tình huống đều có thể xảy ra, kể cả tình huống đáng lo sợ nhất là tâm lò phản ứng bị nóng chảy hoàn toàn, gây nổ lò phản ứng và đẩy bụi phóng xạ ra ngoài không gian. Cơ quan an toàn Pháp đặt mức độ nghiêm trọng của Fukushima lên số 6 trên thang độ INES (International Nuclear Event Scale) nguy hiểm hơn biến cố Three Mile Island ở Mỹ (28/3/1979) và sau thảm hoạ Tchernobyl (26/4/1986) với mức độ cao nhất, số 7. Cơ quan an toàn Nhật Bản xếp Fukushima vào mức độ số 4 (hôm nay mới lên 5) có lẽ để cho dư luận khỏi hoang mang? Dân chúng Nhật Bản, tuy có tinh thần kỷ luật đáng nể, nhưng họ bắt đầu lên tiếng chỉ trích chính phủ và TEPCO về cách quản trị tình hình với nhiều thông tin không chính xác? Tepco đã nhiều lần bị chính phủ cảnh cáo và phạt nặng vì đã gian trá và giấu giếm nhiều tài liệu tối quan trọng về an toàn.

Nguy cơ ô nhiễm phóng xạ đang là nỗi lo sợ lớn nhất hiện nay của Nhật Bản và các nước láng giềng. Sau vụ nổ ở lò phản ứng số 1, lượng phóng xạ đo được trong phòng điều khiển của lò phản ứng cao gấp 1000 lần so với mức bình thường. Mức phóng xạ ở khu lò số 3 ngày 12/3 đã lên đến 400 mSv/h! (1) (những “liquidateurs” ở Tchernobyl, tử nạn một tháng sau thảm hoạ, đều hấp thụ hơn 6000 mSv/h!). Hạm đội Mỹ trong khu vực cũng được lệnh cho các tàu tránh xa nhà máy.

Nhà chức trách đã ra lệnh sơ tán hơn 200. 000 dân cách 20 – 30 km xung quanh nhà máy điện hạt nhân. Người ngoại quốc ớ Tokyo cũng hoang mang và bắt đầu rời kinh đô.

Tùy hướng gió bay, một khi lên cao, làn mây phóng xạ có thể lan tràn rất xa, bay qua nhiều nước trên thế giới như làn mây Tchernobyl. Nếu có mưa trong các ngày tới thì tình hình càng thêm phức tạp, bởi chất phóng xạ sẽ theo mưa rơi xuống đất, gây ô nhiễm nguồn nước, sản xuất nông nghiệp. Ngay cả trong tình huống mong đợi nhất là các lò phản ứng được khống chế, sau khi tình trạng khẩn cấp qua đi, cần phải tiếp tục công tác khử nhiễm, ban bố lệnh cấm sử dụng thực phẩm được sản xuất ở địa phương này.

 

Hậu quả

Dư luận thế giới xôn xao lo sợ và những đoàn thể chống điên hạt nhân đang lên tiếng dữ dội. Cộng đồng Âu Châu (153 lò), Pháp, Ấn Độ, Nga, Trung Quốc và nhiều nước khác đã ra lệnh kiểm soát chặt chẽ và củng cố tất cả các nhà máy điện hạt nhân để đối phó với mọi rủi ro tai biến. Cộng đồng Âu Châu đang muốn thống nhất các tiêu chuẩn an toàn.

Bà Angela Merkel đã quyết định đóng cửa tạm thời 7 nhà máy điện hạt nhân của Đức xây cất trước 1981, và tạm đình chỉ việc cho gia hạn kéo dài thời gian vận hành của những nhà máy khác. Cũng như Vénézuéla, Thụy Sĩ cho hoãn lại các dự án xây cất nhà máy điện hạt nhân. Trung Quốc cũng ngưng cấp giấy phép làm những nhà máy điện hạt nhân mới.

Với những tai biến dồn dập, ngoài con số khủng khiếp trên 14.000 người tử nạn, Nhật Bản đã mất trên 100 tỷ đôla, có ảnh hưởng quan trọng đến mức tăng trưởng kinh tế.

Thị trường chứng khoán thế giới từ 5 ngày qua rúng động như bị Tsunami : 67 tỷ đô của 65 công ty quốc tế về điện hạt nhân đã bay ra khói. Tepco – 57%, Toshiba -30%, Japan Steel Works -38%, Kepco – 23%, Areva -18%, EDF-10, 6%, RWE -8,6%… Ngược lại, giá trị những công nghiệp năng lượng tái tạo tăng lên bội phần.

Như ở Mỹ, sau biến cố thủy triều dầu mỏ, nhiều nước sẽ xét lại và sửa đổi luật lệ an toàn khắt khe hơn trước nhiều, làm tăng giá điện. Dân chúng vùng California lo sợ cho hai nhà máy Diablo Canyon (2 x 1100 MW) và San Onofre (2×1100 MW) nếu có động đất lớn. Lý do khác làm giá điện tăng cũng vì các nước sẽ hết sức thận trọng trước khi cấp giấy phép cho gia hạn thời gian vận hành các lò từ 30 đến 40 hay 50 năm (trường hợp Fessenheim 2 x 900 MW của EDF vận hành từ 1977 -1978). Nên nhớ rằng gia hạn một lò tốn hàng trăm triệu đôla và thùng lò cũng như vỏ bọc lò không thể đổi mới được.

Như tôi đã nhấn mạnh nhiều lần từ lâu, một tai biến lớn như Tchernobyl hay Fukushima có thể làm lung lay hay sập đổ công nghiệp hạt nhân thế giới. Vì biến cố Three Mile Island mà 30 năm nay Mỹ không xây cất thêm một nhà máy điện hạt nhân nào cả.

 

Pháp

Nước Pháp, nhất nhì trên toàn cầu về số cơ sở nguyên tử, đang rất lo lắng và đặt nhiều câu hỏi về phương diện an toàn. Với 58 lò rải rác trong 19 nhà máy, tỷ lệ điện hạt nhân 78% cao nhất thế giới. Trung bình, mỗi người dân Pháp ở cách xa nhà máy điên hạt nhân tối đa chỉ 300 km. Đảng Xanh đã lên tiếng đề nghị chính phủ trưng cầu dân ý và đóng cửa ngay các nhà máy cũ hay ở vùng dễ bị động đất như Fessenheim (2 x 900 MW) và Tricastin (4 x 900 MW). Những nhà máy EDF trên nguyên tắc chỉ có thể chống cự lại với các trận động đất dưới 7° hay 8° Richter mà thôi. Về cách tính toán, EDF dựa trên trận động đất xưa nhất biết được trong vùng và tăng con số thêm một ít cho khoảng an toàn. Ví dụ nhà máy Fessenheim, EDF dựa trên trận động đất 6,2° Richter ở Bale năm 1356 và tăng thêm 0,5 thành 6,7. Gần Bordeaux, nhà máy Blayais (4 x 900 MW) suýt nữa bị nước tràn ngập trong trận bão lớn năm 1989.

Dân chúng ở vùng Paris không an tâm lắm vì nhà máy Nogent (2 x 1300 MW) chỉ cách Paris 120 km ! Theo cơ quan an toàn hạt nhân Pháp, trong năm 2010, EDF đã phải đối phó với 1000 sự cố số 1 và 2 (trên thang độ INES) xảy ra trong các nhà máy điện hạt nhân. Chính phủ đặt tin tưởng vào lò thế hệ thứ ba EPR-1600 MW (European Pressurized Reactor) đang xây cất ở Flamanville. Lò này cũng đang được xây cất ở Phần Lan nhưng bị trễ 3 năm trời, làm cho Areva mất hàng tỷ đôla. Lẽ cố nhiên, những lò thế hệ 3 như EPR, hết sức đắt tiền, an toàn hơn lò thế hệ 2, PWR hay BWR. Tuy nhiên lò thế hệ 3 chỉ là một kiểu lò tiến hoá (évolutionnaire) vừa dựa trên kinh nghiệm quý báu của lò thế hệ 2, vừa được bổ sung với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, chứ không có tính cách cách mạng. Ví dụ, với các lò Fukushima sử dụng nguyên lý an toàn chủ động (Active Safety Features) cần đến nguồn điện cấp cứu Diesel cho hệ thống làm lạnh, các lò thế hệ 3 áp dụng nguyên lý an toàn thụ động. Trong tương lai, lò thế hệ 4 cũng không thể nào bảo đảm an toàn như có người mơ tưởng!

Cũng như ở Đức và nhiều nuớc khác, Pháp sẽ phải thay đổi chiến lược dài hạn về năng lượng và dần dần hạ thấp tỷ lệ điện hạt nhân. Nhiều chuyên gia négaWatt (tên một tổ chức chống lãng phí năng lượng ở Pháp) chống điện hạt nhân đã tuyên bố rằng Pháp có thể dần dần bỏ điện hạt nhân trong vòng 25-30 năm nữa bằng cách tiết kiệm và tăng hiệu suất năng lượng (-50%) và triệt để sử dụng năng lượng tái tạo (+ 80%) và khí (+ 20%).

 

Việt Nam

Trong số 20 bài tôi viết (2) từ năm 2003 với tất cả nhiệt tình dành cho quê hương, tôi đã nhiều lần nói rằng Việt Nam không nên xây cất nhà máy điện hạt nhân vì nhiều lý do : an toàn, chuyên gia, nhân lực, kinh tế, tài chính, môi trường, rủi ro nguy hiểm, lưu trữ chất thải phóng xạ…Chính sách năng lượng của nước ta, cũng như của tất cả các nước trên thế giới, phải dựa trên việc triệt để tiết kiệm, sử dụng có hiệu lực năng lượng, khai thác tất cả các nguồn năng lượng tái tạo. Tổn thất năng lượng ở Việt Nam hiện nay có thể lên đến 35-40% ! Theo tôi, không có con đường nào khác.

 

Thay lời kết luận

Những cường quốc phải thay đổi cách nhìn và cách sống. Các giới có thế lực (lobby) tiếp tục muốn duy trì công nghiệp điện hạt nhân, không những đã lỗi thời, mà còn vô cùng tai hại cho hàng trăm thế hệ con cháu sau này.

Các nhà khoa học và chính trị gia cần có thái độ khiêm tốn hơn nữa trước sức mạnh thiên nhiên của tạo hoá. Những nhà triết lý, thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ, tu sĩ, nha sĩ, giáo sư, giáo viên…, mọi tầng lớp dân chúng đều có quyền cho ý kiến trước khi nhà chức trách thực hiện những dự án quan trọng hay áp dụng những biện pháp có ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh của cá nhân họ và của đất nước .

Không ai có quyền ô nhiễm trái đất. “Chúng ta không thừa hưởng đất đai của tổ tiên, chúng ta mượn tạm của con cháu” (Saint-Exupéry). Các công ty quốc tế không thể cứ thản nhiên xem đồng đôla quý hơn môi trường và sinh mạng con người ! Đã đến lúc cần nói lên sự thật thay vì dối trá với dân chúng!

Nhắc lại thảm hoạ Híroshima và Nagasaki, Kenzaburô Oé, Nobel văn chương Nhật Bản 1994, trong một bài phỏng vấn của báo Le Monde ngày 17/3 diễn tả tâm trạng như sau :“lịch sử Nhật Bản đang đi vào một giai đoạn mới và một lần nữa chúng ta bị những nạn nhân hạt nhân nhìn ngó, những người đã tỏ ra hết sức can đảm trong nỗi đau đớn. Người Nhật, đã có kinh nghiệm lửa nguyên tử, không được nghĩ đến năng lượng hạt nhân bằng khả năng sản xuất công nghệ“.

Ai mà không động lòng rưng nước mắt khi nhìn thấy dân chúng Nhật Bản quằn quại đau khổ như thế? Ai không kính phục hàng chục, hàng trăm người đang hy sinh tính mạng để cho làn mây phóng xạ khỏi rải chất độc trên khắp trái đất ?

Cũng như Tchernobyl (3), Fukushima đang đánh tiếng chuông long trời lở đất. Tôi hy vọng rằng nó sẽ làm lay chuyển lương tâm của những nhà khoa học hay chính trị gia thiếu tinh thần trách nhiệm đối với nhân loại nói chung và đối với dân với nước của họ nói riêng.

 

Nguyễn Khắc Nhẫn,

Nguyên Cố vấn Nha kinh tế, dự báo, chiến lược EDF Paris,

GS Viện kinh tế, chính sách năng lượng Grenoble,

GS Trường Đại học Bách khoa Grenoble.

 

Fukushima : 100 ngày sau động đất, sóng thần và nổ lò phản ứng nguyên tử

Fukushima : 100 ngày sau…

by Tịnh Tâm — Cập nhật : 24/07/2011 12:01

Tịnh Tâm

Ngày 18 tháng 6, 2011, là ngày thứ 100 kể từ khi có động đất và sóng thần xảy ra ngày 11 tháng 3 ở ba tỉnh Fukushima, Miyagi, và Iwate ở vùng đông bắc Nhật bản. Cường độ của thiên tai động đất là 9.0 đo trên Ritcher qui mô và sóng thần tsunami cao hơn 14m theo IAEA1) (International Atomic Energy Agency : Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế) hay 38m theo nghiên cứu của Đại học Tohoku. Ngay sau địa chấn và sóng thần thì ba trong bốn lò phản ứng nguyên tử số 1, 2, 3 và 4 ở nhà máy phát điện nguyên tử số 1 của công ty điện lực Tokyo (Tepco) trong tỉnh Fukushima bị nổ do khí hydro, gây ra ô nhiễm phóng xạ trong tỉnh này và những tỉnh kế cận. Cạnh gần nhà máy phát điện nguyên tử số 1 là nhà máy phát điện nguyên tử số 2 của công ty Tepco, gồm lò phản ứng nguyên tử số 5 và 6.

 

 Hình 1. Ảnh chụp từ trên không những lò phản ứng nguyên tử

bị nổ ở nhà máy phát điện nguyên tử số 1
trong tỉnh Fukushima của công ty điện lực Tokyo (Tepco)2)

 Động đất gây ra nhà cửa đường sá bị sập đổ hư hại trong ba tỉnh này. Những vùng đất cận biển ở tỉnh Miyagi lại còn bị thêm nạn nền móng đất bị hạ thấp 70cm nên đường phố nhà cửa hay bị lụt lội mỗi khi có trời mưa. Sóng thần cuốn sạch nhà cửa cây cối và sau khi rút lại về biển thì để lại rác rưới bùn lầy khắp nơi. Phóng xạ gây ra nạn phải di tản dân ở trong vòng đường kính 20km cùa nhà máy phát điện nguyên tử số 1. Những cư dân này có lẽ sẽ không bao giờ có cơ hội trở về ở lại nhà cũ bởi vì bán giảm kỳ (half-life) của chất phóng xạ ceasium 137 là 30 năm. Phóng xạ còn gây ra ô nhiễm :

1) cho đáy biển từ Ibaraki, một tỉnh ở dưới Fukushima, đến tỉnh Chiba ở phía tây nước Nhật. Cá đánh từ những vùng biển này và ở tỉnh Miyagi bị xác nhận có phóng xạ cao và mặc dù ngư dân đang khôi phục lại ngành đánh cá và nuôi cá, rong biển, hàu (oyster), không ai có thể khẳng định được những ngư sản tương lai đó sẽ không vượt quá tiêu chuẩn phóng xạ trong thực phẩm của chính phủ Nhật hay không (500 Bq/kg),

2) cho tro từ bùn ở những cơ sở xử lý nước thải ở thành phố Koriyama, tỉnh Fukushima3). Những tro này đem bán cho những hãng chế tạo xi măng và tỉnh Fukushima đang điều tra những tro đó đang ở đâu. Gần đây đài truyền hình công cộng NHK (Nippon Hoso Kyokai) loan báo là độ phóng xạ của bùn từ cơ sở xử lý nước của thành phố Kawasaki, tỉnh Kanagawa, cách tỉnh Fukushima chừng 300 km, rất cao; và cơ sở này đang gặp khó khăn không biết phải làm thế nào để loại trừ lượng phóng xạ trong bùn,

3) cho rau cải trồng ngoài trời lẫn trong những nhà lồng nylon/PE trong ba tỉnh này và tỉnh Chiba, và cả trà ở những tỉnh xa như Kanagawa, Shizuoka4),

4) cho sữa bò tươi (milk) trong ba tỉnh nói trên.

Tin tức truyền thông cho thấy rằng tổng cộng tổng sản phẩm (GDP : gross domestic products) của ba tỉnh Fukushima, Miyazaki, Iwate chỉ bằng tổng sản phẩm của thành phố Kobe, nơi bị động đất tàn phá ngày 17 tháng 1 năm 1995, khoảng 6% của tổng sản phẩm toàn nước Nhật hay chừng 30.7 tỷ USD. Sự kiện này cho thấy rằng ba tỉnh bị thiên tai (động đất và sóng thần) và nhân tai (lò phản ứng nguyên tử bị nổ) là những vùng nghèo và nguồn lợi tức chính của họ là thủy sản, nông sản và lâm sản mặc dù rằng những nhà máy sản xuất phụ tùng điện tử cho xe hơi, máy điện thoại di động thông minh của các công ty ở Mỹ hay châu Âu đều ở trong vùng đông bắc Nhật này. Tháng năm vừa rồi, công ty điện tử Hitachi đã quyết định dời nhà máy sản xuất phụ tùng điện tử cho xe hơi từ thành phố Minami Soma, tỉnh Fukushima, qua tỉnh Yamanashi bởi vì công nhân sợ động đất và không chịu nổi quá nhiều dư địa chấn (aftershocks of earthquake). Như vậy tỉnh Fukushima và thành phố Minami Soma mất đi một nguồn thuế lợi nhuận. Hiện nay, mặc dù nhiểu căn nhà tạm trú đã được xây cất cho những người tỵ nạn sống tập thể ở những trường trung tiểu học phế thải (vì ít học sinh do nạn giảm dân số của Nhật) hay những trung tâm thể thao thể dục; nhưng có nhiều gia đình không muốn vào ở bởi vì họ không có điều kiện tài chính để trả tiền điện, nước, ăn uống v.v., những khoảng gia chánh mà họ không phải trả tiền khi họ còn ở trong những trại tỵ nạn. Thống kê cho thấy rằng dân số tỉnh Fukushima khoảng 2 triệu, trong đó 52.000 người tỵ nạn vì sóng thần và 128.000 người tỵ nạn vì ô nhiễm phóng xạ. Số người tỵ nạn vì sóng thần ở tỉnh Miyagi là 295.000 người (dân số : 2.3 triệu) và ở tỉnh Iwate là 114.000 người (dân số: 1.3 triệu). Tổng cọng số dân tỵ nạn là 589.000 người. Số tiền trợ quyên trong nước Nhật và trên thế giới rất nhiều (250 tỷ yen). Để đơn giản tính toán, giả sử rằng chỉ có những người tỵ nạn này được nhận tiền và như thế mỗi người tỵ nạn sẽ được trung bình chừng 424.000 yen hay 5.300 USD. Tuy số tiền này khá lớn nhưng những người tỵ nạn này mất việc làm vì hãng xưởng họ làm bị sóng thần cuốn đi mất nên họ không thể sống dài hạn trên số tiền 424.000 yen này. Bởi vậy ta có thể hiểu được tại sao có những người chỉ muốn sống ở trại tỵ nạn. Mãi cho đến thời điểm tháng sáu này số tiền trợ quyên vẫn chưa được phân phối cho những người tỵ nạn.

Kinh nghiệm thiên tai cho thấy rằng động đất và sóng thần vùng đông bắc Nhật lần này mặc dù lớn và khủng khiếp nhưng còn có thể phục hồi như lần động đất ở Kobe hồi 1995. Thiên tai trở thành khó khăn phức tạp khi thêm nhân tai xảy ra ở tỉnh Fukushima do nổ những lò phản ứng nguyên tử ở nhà máy phát điện số 1 của công ty Tepco.

Lò phản ứng nguyên tử số 1 nổ vì hơi hydro ngày 12 tháng 3. Hai ngày sau lò phản ứng nguyên tử số 2 nổ cũng vì hơi hydro. Qua ngày 15 tháng 3, hơi hydro làm lò phản ứng nguyên tử số 3 nổ. Công ty Tepco và Cục An Toàn Nguyên Tử và Công Nghiệp (Japan Nuclear and Industrial Safety Agency) của Bộ Kinh Tế, Thương Mại và Công Nghệ (METI) lên TV trấn an dân chúng rằng mức phóng xạ ô nhiễm không gây tai hại sức khỏe. Sau đó rất nhiều giáo sư với bằng Ph.D. từ những đại học nổi tiếng ở Nhật như Đại học Tokyo, Kyushu, Osaka, Nagoya, Tohoku, Chiba, Đại học Công Nghệ Tokyo ra mặt hàng ngày ở các đài TV tư như Yomiuri, Asahi, Mainichi, Tokyo để ủng hộ những phát biểu của công ty Tepco và những buổi báo cáo hằng ngày của phát ngôn viên chính phủ Nhật. Những ông giáo sư này nói mà không đưa ra một bằng chứng nào để xác nhận phát biểu của họ. Và những phát biểu của họ hoàn toàn sai với sự thật mà công ty Tepco và chính phủ Nhật vừa xác nhận trong báo cáo đệ trình với IAEA thượng tuần tháng 6. Không biết những luận văn Ph.D. của họ có giống như những phát biểu của họ không. Nhìn những ông giáo sư đại học này tôi liên tưởng đến hàng ngũ giáo sư đại học ở Việt nam. Và tôi cũng không ngạc nhiên tại sao những đại học Nhật vừa kể tên ở trên hiện nay sắp hạng thấp hơn các đại học Hương Cảng, Tân Gia Ba (Singapore), Hán Thành (Seoul), Bắc Kinh v.v.

Hình 2 cho thấy vị trí của nhà máy phát điện số 1 của công ty Tepco và những vùng bị ô nhiễm phóng xạ5). Chính phủ Nhật đã công nhận vùng nằm trong đường kính 20km từ trung tâm nhà máy phát điện nguyên tử số 1 là bị ô nhiễm phóng xạ trầm trọng không thể sống được nên ra lệnh bắt cư dân trong vùng này phải di tản. Trạm kiểm soát ở biên giới 20km cũng được thành lập để cấm cư dân ra vào. Hồi tháng tư công ty Tepco loan báo là sẽ bồi thường một triệu yen (khoảng 12.500 USD) cho mỗi hộ nhà nằm trong đường kính 20km này và họ đã phân phối giấy tờ cần thiết cho những cư dân tỵ nạn này. Nhưng cho mãi đến thời điểm giữa tháng sáu này vẫn chưa có tin tức nào nói rằng Tepco đã trả tiền bồi thường này.

 Hình 2. Phân phối chất phóng xạ ceasium trong tỉnh Fukushima 5)

 

Khi lò phản ứng nguyên tử số 3 nổ ngày 15 tháng 3, gió đổi hướng từ phía đông qua tây và mang làn phóng xạ lên tới làng Iitate trong tỉnh Fukushima. Ngày hôm đó lại có mưa xuống làng này. Mặc dầu chính phủ Nhật biết độ phóng xạ ở làng này cao nhưng họ không công báo cho dân làng Iitate biết. Rồi thì IAEA cảnh cáo dân làng Iitate nên tỵ nạn tránh ô nhiễm phóng xạ nhưng chính phủ Nhật lại nói rằng dân làng này sẽ không bị ảnh hưởng gì. Lúc đó mọi ông giáo sư đại học bình luận gia nguyên tử nói ở trên đều quả quyết rằng phóng xạ made in Japan an toàn. Bây giờ ông trưởng làng Iitate bắt buộc tất cả mọi người dân làng phải tỵ nạn và thời hạn di tản cuối cùng là ngày 30 tháng 6 bởi vì mức phóng xạ cao hơn số lượng chỉ định bởi chính phủ Nhật là 20 mSv/năm. Bởi vì Cục Khí Tượng Nhật không có dịch vụ cung cấp số lượng phóng xạ theo chiều gió nên sau này mỗi lần đi công tác ở làng Iitate tôi đều phải vào trang web của Cục Khí Tượng Đức (http://www.dwd.de/wundk/spezial/Sonderbericht_kon.png) để tham khảo hướng gió của làn phóng xạ này.

Những ông giáo sư đại học Nhật kiêm bình luận gia nguyên tử nói trên cũng phủ định sự chảy tan (meltdown) xuống đáy lò phản ứng nguyên tử của mấy ngàn ống nhiên liệu uranium trong mỗi lò. Bây giờ, cả chính phủ Nhật lẫn công ty Tepco đều công nhận trong báo cáo đệ trình IAEA ngày 7 tháng 6 rằng không những có hiện tượng chảy tan mà còn có thể có cả chảy qua (melt-through) vách lò phản ứng. Và không một ông giáo sư đại học bình luận gia nguyên tử nào nói trên đính chính những phát ngôn bừa bãi của họ hồi xảy ra tai nạn nổ lò phản ứng nguyên tử.

Lúc xảy ra tai nạn phát điện nguyên tử, chính phủ Nhật gia tăng chỉ số phóng xạ an toàn cho những người làm ở nhà phát điện nguyên tử từ 100 lên đến 250 mSv/năm trong khi đó chỉ số phóng xạ an toàn cho dân chúng là 20 mSv/năm. Không ai biết tại sao lại có hai tiêu chuẩn an toàn phóng xạ khác biệt này. Không lẽ người làm ở nhà phát điện nguyên tử có hệ thống miễn dịch chống phóng xạ tốt hơn những người làm công việc khác?. Vào cuối tháng 5, dân chúng tỉnh Fukushima kéo đến biểu tình trước Bộ Giáo Dục và Khoa Học về chuyện bộ này lập ra quy định chỉ số phóng xạ an toàn 20 mSv/năm cho trẻ nhỏ học cấp tiểu học và trung học (lớp 1 đến lớp 9) và mẫu giáo. Ông Bộ Trưởng bộ này phải xuống nước và đưa ra chỉ số phóng xạ an toàn mới là 1 mSv/năm. Như vậy hiện nay Nhật có ba chỉ số phóng xạ cho người. Đây là những trị số phóng xạ trong không khí. Đất ở sân trường tiểu học, trung học trong tỉnh Fukushima, điển hình là thành phố Koriyama, chứa nhiều phóng xạ, từ 7 đến 20 µSv/giờ (đơn vị phóng xạ thông dụng ở Nhật là sievert (Sv) và becquerel (Bq)). Tỉnh Fukushima và thành phố Koriyama phải cùng nhau bới mặt đất sân trường và thay vào đó đất mới không bị ô nhiễm phóng xạ. Vấn đề là cả tỉnh và thành phố không có tiền để thay mặt đất toàn thể các sân trường học và cũng không biết phải xử lý đất ô nhiễm phóng xạ như thế nào nên chỉ dồn đống lại.

Sự dối trá của chính phủ Nhật trong chuyện phủ nhận ảnh hưởng xấu của mức độ phóng xạ gây ra bởi nhà máy phát điện nguyên tử số 1, trong chuyện thay đổi liên tục tiêu chuẩn an toàn phóng xạ, trong chuyện phủ nhận làn phóng xạ đã lan tràn đến làng Iitate, và sự thổi phồng chính sách này của chính phủ Nhật của những bình luận gia giáo sư đại học qua truyền hình là biểu tượng rõ ràng nhất của cuốn sách “Why Leaders Lie”(tại sao cấp lãnh đạo nói dối)6) của John Mearsheimer.

Rất nhiều báo chí và người ngoại quốc ca ngợi tinh thần kỷ luật cao của người Nhật trong cảnh hỗn loạn do thiên tai và nhân tai gây ra ngày 11 tháng 37). Tờ Tuổi Trẻ Online8) cũng không hết lời khen ngợi, nào rằng không có trộm cướp, hôi của, hãm hiếp trong thảm họa ở Nhật. Rồi thêm ông cảnh sát Nhật gốc Việt ở tỉnh Saitama cũng lên blog thần thánh hóa đứa trẻ mười tuổi mặc dù trời lạnh bấc chỉ có cái quần đùi và áo thun mà không than vãn đòi hỏi gì cả hoặc là mặc dù rất đói đứa trẻ này không chịu ăn đồ ăn mà ông cảnh sát Nhật gốc Việt đó cho (bài này xuất hiện trên blog của một nhà Hán học nhưng nay không còn nữa).

Chính phủ Nhật dựa vào sự tê liệt của nhà máy phát điện nguyên tử số 1 ở tỉnh Fukushima để đòi hỏi dân chúng và công ty hãng xưởng trên toàn nước Nhật tiết kiệm điện 15% trong mùa hè này so với số lượng điện tiêu thụ cùng thời hồi năm ngoái. Ngay trong thời điểm tháng sáu này không thiếu gì công ty đã tháo 1/3-1/2 số đèn ống trong văn phòng hãng xưởng. Nói cách khác chính phủ Nhật đang đòi hỏi dân chúng Nhật chịu đựng (thắt lưng buộc bụng) như hồi chiến tranh 1940-1945. Có lẽ ông cảnh sát Nhật gốc Việt ở tỉnh Saitama nói trên đang hưởng ứng tích cực chương trình tiết kiệm điện của chính phủ của ông ta. Tôi chỉ muốn nhắc nhở ông Nhật này rằng chính phủ của ông ta đã dùng chiến thuật thắt lưng buộc bụng này ở quốc nội để có phương tiện và lý do để xâm chiếm Việt nam và làm hơn một triệu dân Việt chết đói hồi 19459).

Xã hội nào cũng có hai mặt. Chính quyền (nhất là cảnh sát) Nhật có khuynh hướng tô vẽ đẹp quốc gia nên họ ít cho báo chí và truyền hình biết nhiều tin xấu về Nhật. Trong khi báo chí ngoại quốc nói rằng không có trộm cướp ở những vùng bị thảm họa thì trong một phát thanh của chương trình TV Tackle, giờ phát thanh là mỗi tối thứ hai lúc 9:00 PM trên đài TV Asahi, Beat Takeshi, MC của chương trình, nói rằng trong những tháng ba và tư, số trộm cắp máy đo ETC (Electronic Toll Collection System : hệ thống trả tiền đường xa lộ bằng điện tử) gắn trong xe hơi xảy ra liên tục hằng ngày. Cần chú thích rằng Beat Takeshi là diễn viên khôi hài (comedian) kiêm đạo diễn điện ảnh kiêm họa sĩ có tiếng tăm ở Nhật và Pháp. Chương trình TV Tackle chuyên về chính trị quốc nội Nhật và rất nhiều dân biểu quốc hội của các đảng chính trị cũng như bình luận gia chính trị có mặt mũi tham gia chương trình này.

Những dân đi tỵ nạn của ba tỉnh bị thiên tai và nhân tai để lại nhà trống và đêm xuống thì phố xá đen ngòm bởi không có điện. Bởi vậy nạn trộm cắp rất hay xảy ra cho nên cảnh sát các tỉnh khác đến tuần tiễu trợ giúp cho ba tỉnh này. Mới đây tin tức TV cho biết là trong thời hạn từ tháng ba đến tháng năm, 2011, ở thành phố Hirono (Hình 3) có 312 vụ trộm cướp vì dân đi tỵ nạn để nhà trống và hơn 100 triệu yen, tương đương với 1.250.000 USD trong những ATMs (Automatic Teller Machines) ở chín vùng gần nhà máy phát điện nguyên tử số 1 đã bị mất.

Cũng trong hai tháng ba và tư, công ty Tepco lập ra chương trình cắt điện theo kế hoạch trong tỉnh Tochigi, Gunma, Saitama, Chiba, Yamanashi, Kanagawa, Shizuoka, và Tokyo. Bởi vậy dân chúng trong các tỉnh này ùn ùn đi mua lò bếp nấu bằng gas, pin, gạo, đồ ăn đóng hộp, mì gói, giấy toilet. Rồi có tin sữa bò tươi (milk) và nước dùng hằng ngày bị nhiễm phóng xạ nên dân chúng lại ùn ùn đi mua và dự trữ nước đóng chai làm chính phủ Nhật phải trấn an công chúng rằng những nhà sản xuất đang tăng cường sản xuất nhu yếu phẩm hằng ngày cho dân chúng.

Bởi vì đường xá và các trạm xăng ở vùng bị động đất bị hư hoại nên xăng không thể cung cấp cho vùng này được. Như thế là có trộm xăng ở khu vực bị thiên tai và nhân tai này. Một người bạn Nhật của tôi sống và mở vài ba quán ăn McDonald ở thành phố Iwaki tỉnh Fukushima. Để tránh phóng xạ và từ địa chấn, chị ta lái xe từ thành phố Iwaki qua thành phố Koriyama rồi đến tỉnh Niigata (Hình 3) và sau đó xuống thành phố Kawasaki, tỉnh Kanagawa. Trên đường từ Iwaki qua Koriyama và Niigata, chị ta thấy không biết bao nhiêu xe bỏ trống với những nắp bình xăng bị cậy mở. Trong đó không thiếu gì những xe đắt tiền như BMW, Benz Mercedes, Lexus v.v.

 

Hình 3. Bản đồ tỉnh Fukushima 

Một vấn đề bất ngờ xảy ra là sự kỳ thị những người bị nhiễm phóng xạ nguyên tử. Hồi tháng ba có những người tỵ nạn từ tỉnh Fukushima xuống thành phố Tsukuba ở tỉnh Ibaraki và đã bị dân chúng ở đây đuổi đi vì họ sợ bị lây nhiễm phóng xạ. Sau khi tin này lên TV, ông thị trưởng thành phố Tsukuba lên tiếng xin lỗi và hứa là sẽ đón tiếp những người tỵ nạn. Gần đây lại có tin tức rằng một người đàn ông thành phố Iwaki, tỉnh Fukushima, khi đi hiến máu cho Hội Hồng Thập Tự Nhật Bản ở Tokyo nói dỡn (đùa) rằng anh ta có thể bị nhiễm phóng xạ thì liền bị đuổi về. Sau đó Hội Hồng Thập Tự Nhật Bản lên tiếng xin lỗi và hứa sẽ giáo dục lại nhân viên10).

Có hai văn sĩ Nhật lên tiếng về thiên tai động đất, sóng thần và nhân tai nổ lò nguyên tử. Đó là ông Ishihara Shintaro và Murakami Haruki. Ngay sau khi xảy ra thảm họa ngày 11 tháng 3, ông Ishihara, hiện giờ là tỉnh trưởng tỉnh Tokyo, lên tiếng nói rằng đây là trời phạt nước Nhật (wrath of God, divine punishment). Ông Murakami, khi nhận một giải thưởng ở Tây Ban Nha trong tháng sáu này, phát biểu rằng Nhật bị trời phạt. Ta có thể hiểu rằng hai ông văn sĩ này muốn nói đời sống tinh thần của dân Nhật bị sa đọa bởi vì họ chỉ biết hưởng thụ vật chất rồi phá hoại thiên nhiên để có thể tiếp tục hưởng thụ vật chất. Có lẽ hầu hết người Nhật không để ý đến những tự hối thảm thiết này ngoại trừ một số ít người lớn tuổi đã sống qua thời cực khổ sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt.

Một nông gia 64 tuổi sản xuất rau cải ở thành phố Sukagawa, nằm dưới thành phố Koriyama (Hình 2 và 3) đã treo cổ tự vẫn chết ngày 24 tháng 3 sau khi chính phủ đảng Dân Chủ của ông Otsuka Kohei, Thứ Trưởng Bộ Sức Khỏe và Phúc Lợi (Health and Welfare Ministry), ra lệnh cấm buôn bán rau cải trồng ở tỉnh Fukushima vì bị ô nhiễm phóng xạ. Một nông gia khác trong tuổi 50 chuyên sản xuất sữa bò tươi ở thành phố Soma, ngay trên thành phố Minami Soma (Hình 2 và 3), cũng đã tự vẫn, để lại những hàng chữ viết bằng phấn trắng : “Ước gì không có nhà máy phát điện nguyên tử. Chỉ có thể chịu đựng đến mức này thôi ”. Bạn người nông gia này khám phá ra thi thể của ông ta ngày 11 tháng 6, 2011, khi họ đi xác nhận sự an toàn của ông ta. Ngay sau những vụ nổ lò phản ứng nguyên tử, cũng chính chính phủ đảng Dân Chủ của ông Otsuka ra lệnh cấm đem bán sữa bò tươi làm ở tỉnh Fukushima vì sữa bị nhiễm phóng xạ. Mặc dầu lệnh được bỏ ngày 21 tháng 4, khách hàng không còn muốn mua sữa bò tươi của tỉnh Fukushima nữa vì sợ nhiễm phóng xạ11).

Trong kỳ họp Đại Hội Đồng lần thứ 64 chuyên về khủng hoảng phóng xạ ở tỉnh Fukushima của Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới (World Health Organization) trong ngày 17 tháng 5, 2011, ông Otsuka tuyên bố rằng cho đến thời điểm buổi họp, vẫn chưa có người Nhật nào chết vì bị nhiễm phóng xạ12). Có lẽ ông Otsuka cho rằng cái chết của người bị ô nhiễm phóng xạ trực tiếp là cái chết do nhà máy phát điện nguyên tử số 1 gây ra, còn cái chết vì đời sống kinh tế khó khăn gây ra bởi sản phẩm bị ô nhiễm phóng xạ thì là không phải do nhà máy phát điện nguyên tử đó gây ra.

Đầu tháng năm tôi lên làng Iitate trồng ngũ cốc (lúa, khoai lang, đậu phụng, rau dền, đậu nành (tương) xanh (green soybean)) để xem xét than do công ty tôi làm ra có thể giảm số lượng phóng xạ hấp thụ bởi ngũ cốc hay không.

Dân số làng Iitate chỉ có 6.500 người và 1.600 hộ nhà nhưng bao gồm rất nhiều núi và hoa dại như anh đào, đằng (wisteria), đào (peach). Cho đến đầu tháng 5, hoa anh đào, hoa đằng và hoa đào vẫn còn nở rực rỡ bên cạnh những con đường vòng vèo trong đồi núi. Bởi cảnh thiên nhiên rất hùng vĩ và nên thơ nên du khách viếng làng Iitate rất nhiều. Bây giờ dân làng phải tỵ nạn nên Iitate trở thành một vùng đất dại.

Chúng tôi cũng qua thành phố Minami Soma làm thực nghiệm cũng dùng than nói trên để giảm hàm lượng muối trong những đồng ruộng bị sóng thần gây ra. Hình 2 và 3 chỉ định vị trí làng Iitate và thành phố Minami Soma. Hình 4 chỉ vị trí đồng ruộng nơi làm thực nghiệm ở khu vực Haramachi, phố Minami Soma. Người nông gia cho thuê đồng ruộng nói rằng nước biển sóng thần tràn lên cả từ phía sông Niida và bờ biển cách xa đồng ruộng chừng ba cây số. Nhưng khi sóng thần rút xuống thì chỉ rút về phía bờ biển. Buổi trưa ngày 11 tháng 3 đó gia đình anh nông gia đang ở trước sân nhà và nhìn thấy sóng biển lên từ phía sông Niida nên liền lên xe hơi lánh nạn và nhờ đó sống sót được.

 Hình 4. Địa đồ vùng Haramachi, thành phố Minami Soma, tỉnh Fukushima

(Biển nằm ngoài góc phải ở trên) 

Sau khi có vụ nổ lò phản ứng nguyên tử, người Nhật mới rõ rằng số máy đo phóng xạ trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu trong nước. Bởi vậy nông trường cho công ty tôi thuê ruộng ở làng Iitate chỉ có thể mua được máy đo độ phóng xạ made in China hồi đầu tháng năm. Số liệu trung bình mức phóng xạ đo trong hai tháng năm và sáu ở nông trường đó là 5,3 µSv/h và ở mặt đất đồng ruộng là 7,1µSv/h. Làng Iitate cũng đo mức phóng xạ ở tòa thị chính của làng. Ký lục của tòa thị chính làng Iitate cho thấy rằng số lượng phóng xạ tăng nhảy vọt từ 0,14 µSv/h lúc 2 giờ chiều lên đến số tối đa 44,70µSv/h đo lúc 6:20 tối ngày 15 tháng 3. Số lượng phóng xạ sau đó giảm dần xuống 28,65µSv/h ngày 16, 21,08µSv/h ngày 17, 21,51µSv/h ngày 18, 21,16µSv/h ngày 19, 16,58µSv/h ngày 20, 11,49µSv/h ngày 21, 9,05µSv/h ngày 27, 7,41µSv/h ngày 31 tháng 3. Qua đến ngày 20 tháng tư thì độ phóng xạ xuống đến 3,59µSv/h. Độ phóng xạ biến động trong giới hạn 3 đến 4µSv/h cho đến ngày 28 tháng 5 và sau đó biến động trong giới hạn 2,5 đến 3,0µSv/h từ cuối tháng 5 cho đến giữa tháng 6. Số liệu độ phóng xạ ngày 15 tháng 3 của làng Iitate xác nhận lời khuyến cáo di tản của IAEA cho làng này như đã nói ở trên.

Số lượng phóng xạ ở đồng ruộng chúng tôi mướn (5,3 µSv/h đo ở độ cao 1m từ mặt đất hay 8,5 µSv/h đo ở độ cao 10 cm từ mặt ruộng) cao gấp 1.8-2.9 lần độ phóng xạ đo ở tòa thị chính làng Iitate. Điều này chứng tỏ sự phân phối không đồng đều của độ phóng xạ trong mỗi làng, thôn, phố (ở Nhật gọi là điểm nóng hay hot spot). Để hiểu rõ hơn tác dụng của độ phóng xạ trên sức khỏe, các trường trung học đệ nhất cấp (lớp 7 đến lớp 9) và tiểu học ở thành phố Date (hình 2 và 3) phân phối cho mỗi học sinh một máy đo tay độ phóng xạ hồi hạ tuần tháng sáu. Và tỉnh Tokyo, Chiba cũng bắt đầu ghi ký lục độ phóng xạ trong từng phố xá trong mỗi tỉnh.

Độ phóng xạ của ruộng chúng tôi mướn ở thành phố Minami Soma thấp hơn ruộng ở làng Iitate, 1.300 Bq/kg vs. 17.000-33.000 Bq/kg. Nhưng độ muối của ruộng ở Minami Soma cao hơn, 4% vs. 0.07%. Lúa trồng ở hai ruộng này sẽ được gặt vào tháng 10 tới và độ phóng xạ trong gạo, trấu, và rơm sẽ được phân tích.

Khi làm ruộng ở vùng Haramachi, thành phố Minami Soma (Hình 4), chúng tôi có dịp đi viếng vùng bờ biển bị sóng thần nhập. Vài ảnh dưới đây sẽ chứng tỏ sức tàn phá của sóng thần.

*

Ảnh 1 là bảng tên người nhà ông Suzuki ở gần bờ biển khu Haramachi. Bảng tên này gắn trên tấm ván trên cửa nhà và đã bị sóng thần cuốn để lại ở bờ ruộng chúng tôi thuê. Gia đình ông Suzuki này chưa tìm ra được nên được xếp loại “mất tích”.

 

 Ảnh 1. Bảng ghi tên người nhà ông Suzuki bị sóng thần cuốn đi.

Ảnh 2 là nhà của nông gia Sato ở vùng Izumi, khu Haramachi, thành phố Minami Soma, người cho chúng tôi thuê ruộng để làm thực nghiệm. Nhà này bị sóng thần tàn phá khi rút về biển lại. Chiếu tatami bị hư hoại và mức sóng thần có thể thấy ở kính cửa sổ.

 Ảnh 2. Nhà của nông gia Sato sau khi sóng thần đi qua

Ảnh 3-6 cho thấy những hư hại vật chất nhà cửa do sóng thần gây ra. Ảnh 7 chỉ những khối bê tông cốt sắt bốn chân (tiếng Nhật là tetrapod) nặng hàng trăm ký lô nằm hổn loạn trên bãi biển sau khi bị sóng thần mang đi. Những tetrapod này thường được dùng để chống nạn lỡ bờ biển (Ảnh 8). Nhìn vào hình ảnh dịu dàng của biển (Ảnh 9) không ai có thể nghĩ rằng biển cũng hung dữ đến độ tàn phá hết mọi làng mạc.

 Ảnh 3. Sóng thần để lại rác rưới và xe tải ở vệ đường dẫn ra biển

 

 Ảnh 4. Một xe hơi mới bị sóng thần cuốn đi rồi để lại khi trở về biển

 

 Ảnh 5. Nhiều tàu đánh cá bị sóng thần cuốn đi rồi để lại khi trở về biển

 

 Ảnh 6. Một căn nhà bị sóng thần tàn phá và sót lại

 Ảnh 7. Những “tetrapod” bị sóng thần cuốn đi rồi bị để lại nằm hỗn loạn trên bãi biển

 

Ảnh 8. Những tetrapods còn sót lại ở bờ biển vùng Haramachi, thành phố Minami Soma

 

 Ảnh 9. Biển vẫn dịu dàng như thủa nào

 Ảnh 10 là hình ảnh xe cảnh sát tỉnh Chiba đến tuần tiễu ở vùng biển Haramachi để trợ giúp cảnh sát thành phố Fukushima. Ảnh 11 cho thấy xe Jeep của Lực Lượng Tự Vệ Nhật đang đậu trước cổng tòa thị chính thành phố Minami Soma. Nhật bản không có quân đội chính thức mà chỉ có Lực Lượng Tự Vệ mặc dầu họ có Bộ Quốc Phòng. Bộ này gửi 100.000 ngàn người đến giúp dân trong vùng bị thiên tai và nhân tai trong khi Lực Lượng này chỉ có 140.000 người. Để bảo vệ hải phận và không phận Nhật, quân đội Mỹ ở Nhật phải phụ lực làm công tác này.

 Ảnh 10. Xe cảnh sát tỉnh Chiba tuần tiểu vùng biển ở thành phố Minami Soma

 Ảnh 11. Xe của Lực Lượng Tự Vệ Nhật đến giúp thành phố Minami Soma

 

Với nền kinh tế thế giới đang trên đà xuống dốc và với một chính phủ không có kinh nghiệm điều hành quốc gia, tôi sợ rằng dân bị thảm họa ở vùng đông bắc Nhật sẽ khốn đốn lâu dài. Cầu mong trời đất phù hộ cho họ được hồi phục nhanh chóng và tai qua nạn khỏi.

Tịnh Tâm

Những ngày đầu hè 2011

Bị chú

 

1) Tiếng Việt hiện đại cho từ nuclear là hạt nhân. Bài này dùng cụm từ nguyên tử thay vì hạt nhân. Đây là từ dịch từ tiếng Hán (genshi) trong tiếng Nhật.

2) Tên người Nhật có thứ tự như người Việt nên trong bài này tên những người Nhật đề cập có họ để trước tên để sau.

 

Tài liệu tham khảo

 

1) http://www.iaea.org/newscenter/news/tsunamiupdate01.html

2)http://edition.cnn.com/2011/WORLD/asiapcf/06/06/japan.nuclear.meltdown/index.html?htp=hp_pl

3) http://www3.nhk.or.jp/news/html/20110501/k10015660021000.html

4) http://www.channelasia.com/stories/afp_asiapacific/view/1134387/1/.html

5) http://www.iaea.org/newscenter/news/2011/fukushimafull.html

6)http://www.amazon.com/Why-Leaders-Lie-International-Politics/dp/0199758735/Ref=sr_1_1?s=book&amp;ie=UTF8&amp.qid=1307673097&amp;sr=1-1

7) Vĩnh Sính 2011 Suy ngẫm về đặc trưng của văn hóa Nhật Bản

http://diendan.or/the-gioi/suy-ngam-ve-111ac-trung-cua-van-hoa-nhat-ban/

8) http://tuoitre.vn/The-gioi/429072/Vi-sao-canh-cuop-boc-khong-xay-ra-trong-tham-hoa-o-

Nhat.htlm

9) http://japanfocus.org/-Geoffrey-Gunn/3483

10) http://sankei.jp.msn.com/life/topics/life-14940-tl.htm

11) http://edition.cnn.com/2011/WORLD/asiapcf/06/14/japan.farmer.disaster/index.html?

iref=NS1

12) http://www.channelasia.com/stories/afp_asiapacific/view/1129516/1/.html

Lão thành lên hương – Đảng sẽ lên đường


http://danlambaovn.blogspot.com/2012/03/lao-thanh-len-huong-ang-se-len-uong.html

Khanh Sơn (Danlambao)– Cuộc chiến chống tự diễn biến tự chuyển hóa của Đảng đang nhắm thẳng vào các vị lão thành cách mạng. Đây là lực lượng khiến TBT Trọng đang đau đầu, lo sợ và lúng túng nhất. Sau phát súng quy kết Đảng là tiếm quyền, đảng chủ, ông vua tập thể của cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An từ năm 2010, đến nay tiếng nói của những cán bộ lão thành, những quan chức đã về hưu ngày càng nhiều và mạnh mẽ. Lực lượng này giờ chẳng sợ gì, chẳng nể nang gì khi viết thư hay giáp mặt các lãnh đạo Bộ Chính trị và chửi thẳng. Mà Đảng thì chẳng dám động tay động chân với các cụ này. Cũng chẳng có quyền lợi gì mà đem ra dụ dỗ các cụ được. Các cụ thấy rõ diễn biến tình hình của chế độ sắp tới sẽ ra sao. Nên các cụ rất muốn làm điều gì đó để để lại cho đất nước cho nhân dân, chứ không phải cho Đảng sắp sang trang này nữa. Cũng giống như cụ Võ Văn Kiệt đã có 1 bài trả lời phỏng vấn để đời trên BBC vậy.

Với tinh thần đó nên các cụ bây giờ lên tiếng ngày càng nhiều. Đó là chưa kể những người có động cơ không trong sáng cũng tranh thủ thời cơ này để “lập công”, hy vọng tìm được 1 lối thoát sau này. Chẳng hạn như cựu Chủ tịch nước đại tướng Lê Đức Anh tự nhiên nhảy ra bảo vệ Đoàn Văn Vươn. Chính sự kiện này đã tạo bước chuyển cho vụ án này làm các báo của Đảng và Nhà nước mạnh dạn lên tiếng bảo vệ anh Vươn. Ngay lúc đó, nhiều người đã râm ran thắc mắc vì sao cụ Lê Đức Anh lại có thể nhanh nhẩu đến như vậy trong khi cụ già yếu và có phần lẩm cẩm rồi. Mãi đến sau khi Thủ tướng Dũng “dấy máu ăn phần” kết luận vụ án này, truyền hình VTV chiếu hình ảnh cụ Anh xuất hiện nói không ra hơi, cầm giấy đọc không ra chữ thì người ta mới vỡ lẽ ra rằng đây là màn được đạo diễn bởi con trai cụ, “thái tử” Lê Mạnh Hà hiện đang là phó chủ tịch UBND TPHCM. Nhiều người biết rất rõ những tội lỗi mà thái tử này gây ra. Nên họ tin rằng bây giờ thái tử phải hy sinh “thái thượng hoàng”, để cha mình xuất hiện trong bộ dạng như vậy. Hy vọng được dân chúng xúc động ghi ơn để sau này hòng có đường thoát. Nhưng dù là với động cơ như vậy thì các cụ này cũng giúp được cho dân và làm cho Đảng phát hoảng.

Hôm Tết vừa rồi chắc ai cũng thắc mắc tại sao ông Thủ tướng Dũng bặt vô âm tín, khác hẳn với tính thích xuất hiện và thể hiện của ông. Thường thì ông tranh thủ mấy ngày Tết đến nơi này nơi nọ để truyền hình báo chí đưa tin nhưng mãi tới mùng 5 Tết mà chẳng thấy ông đâu cả. Dân tình thắc mắc lên mặt báo. Có người bảo ông không khỏe, có người bảo do ông nghe tin tiên tri Trần Dần công bố nói ông sẽ bị ám sát nên phát ốm vì thế. Dư luận xôn xao như vậy nên ông phải xuất hiện vội vã. Ông kêu đài truyền hình Kiên Giang (đài địa phương, chứ không kịp điều đài Trung ương VTV vào) ghi hình mình đi thăm binh đoàn nơi mình từng chiến đấu. Truyền hình đưa tin ngay tối mùng 5 Tết nhưng không có hình ảnh nào chiếu cận cảnh hoặc trực diện. Vài hôm sau ông lại xuất hiện, lần này hình ảnh quay gần hơn thì ai cũng thấy mắt ông thâm quầng và sưng húp. Sau đó người ta mới vỡ lẽ là mấy ngày Tết ông nghe tin các vị lão thành, toàn những cây đa cây đề đồng loạt lên án ông với BCT. Các cụ này nói nên thay ngựa giữa dòng để cứu vãn kinh tế đất nước đang quá bi đát.

Trong tình hình đó nên TBT Trọng phải vội vã gặp mặt Câu lạc bộ Thăng Long ngay khi chưa hết kỳ nghỉ Tết. Mà đây là lần xuất hiện đầu tiên của TBT đầu năm. CLB Thăng Long là của các lão thành Cách mạng. Gặp TBT ngày Tết mà mặt ai cũng nặng nề như đưa đám. TBT thì bảo “xin các bác giúp cho”. Rồi ngay sau đó không quá 1 tuần ông Trọng lại tiếp tục 2 lần gặp mặt các vị nguyên là lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và TPHCM. Không ai được nói, chỉ được nghe, muốn góp ý thì gửi thư sau. Vẻ mặt của các nguyên lãnh đạo này hết sức căng thẳng và không vừa lòng. Chỉ duy nhất có cụ Nguyễn Văn An là tươi rói. Chắc có lẽ cụ thấy rõ những cảnh báo của cụ vì Đảng không nghe đang trở thành sự thật. Cùng lúc đó báo chí đưa tin TBT phát biểu thế này tại hội nghị tuyên giáo hôm 7/2: “…Thậm chí, có cả cán bộ nguyên là lãnh đạo trước khác, nay cũng nói khác, gây phân tâm tư tưởng, trong khi bên ngoài các thế lực thù địch tấn công ta bằng những âm mưu, thủ đoạn ‘diễn biến hòa bình’ “. TBT tưởng rằng nói vậy sẽ ngăn chận được xu hướng tự chuyển biến tự chuyển hóa này. Nhưng không ngờ lại là “dẫn đường cho hươu chạy”. Đảng viên nhất là các vị laõ thành giờ chẳng mấy ai đọc và nghe nghị quyết Đảng hay “lời hay ý đẹp” huấn dụ của các lãnh đạo đương nhiệm nữa. Bây giờ các cụ toàn đọc báo “lề dân” không hà. Cho nên ông Trọng mới phải chỉ đạo là “tăng cường các báo mạng của Đảng và nhà nước để đảm bảo định hướng dư luận” trong hội nghị tuyên giáo nói trên.

Nhưng tăng cường gì nữa, các tờ báo “lề đảng” này đã quá hùng hậu rồi. Tại vì chỉ được làm cái loa của Đảng nên chẳng ai thèm đọc thèm nghe nữa. Ấy vậy nên các báo này chỉ còn cách để tồn tại là đưa những tin chân dài, sex, án mạng lừa tình lừa tiền thì mới mong có tiền mà sống. Viết chính luận theo đường lối của Đảng thì có ai mà đọc nữa. Rập khuôn và ra rả như nhau ở hàng trăm tờ báo đài rồi nên có tăng cường nữa cũng vậy thôi. Đảng và ông Trọng cứ tưởng làm vậy là bịt tai bịt mắt được người dân và Đảng viên đang thay đổi niềm tin. Nhưng thực ra là các ông đang bịt chính mình mà không biết. Rõ là lợi bất cập hại.

Lão thành đang tự nhiên trở thành một lực lượng chính trị rất quan trọng. Các cụ muốn thay đổi và sẵn sàng thay đổi, không sợ lên tiếng. Viện nghiên cứu dư luận Trung ương (cơ quan này ít người nghe tới vì nó chỉ cung cấp kết quả cho lãnh đạo BCT và TƯ mà thôi, nhưng thông tin vẫn rò rỉ) mới đây báo cáo rằng mức độ thay đổi đối với thành phần này là nguy hiểm và đáng báo động. BCT đang rất lo lắng về vấn đề này. Viện này còn cho biết giờ thì người dân nói chung và các vị lão thành nói riêng đọc rất nhiều Dân Làm Báo, Bauxite Việt Nam, BBC, RFA để nắm bắt tình hình chính trị. Nhưng BCT cũng yên tâm phần nào vì nghiên cứu cho biết rằng lực lượng lão thành này chưa có đường lối chung để cùng hướng đến. Nhưng cảnh báo rằng nếu xuất hiện 1 xu hướng như vậy thì khả năng đột biến từ các cụ này rất lớn và mạnh mẽ tới mức có thể mất kiểm soát.

Nhưng theo tôi thì Đảng đã mất kiểm soát một vài năm nay rồi. Đảng bây giờ không còn là một khối thống nhất bằng cách thỏa hiệp quyền lợi, quyền lực như nhiều năm trước đây nữa. Đảng bây giờ bị chia rẽ trầm trọng ở cấp cao thành những phe nhóm rõ rệt. Họ sẵn sàng tương nhau để giành lợi thế. Những Đảng viên cấp thấp hoặc Đảng viên là quần chúng bây giờ cũng không còn nói răm rắp theo nghị quyết Đảng nữa. Do vậy TƯ Đảng mới ra 19 điều cấm vừa rồi để chống lại xu thế “nói ngược” này. Nhưng nó lại càng làm cho Đảng viên bất bình trong lòng. Nhất là các cụ lão thành, chỉ cần chờ 1 xu hướng hợp thời, hợp lòng, hợp thế mà thôi.

Vụ Đoàn Văn Vươn là 1 ví dụ. Nhưng đó không phải là 1 sự kiện chính trị. Nếu có 1 sự kiện chính trị đáp ứng 3 hợp nói trên để các cụ cùng hướng đến, thì sẽ chuyển biến hoàn toàn. Đảng sẽ lên đường thôi.

Khanh Sơn

danlambaovn.blogspot.com

Chỉnh và (hư) đốn của đảng ta


http://danlambaovn.blogspot.com/2012/03/chinh-va-hu-on-cua-ang-ta.html#more

Dân Làm Báo – Khai gian bằng cấp Tiến Sĩ, thiếu gương mẫu, vụ lợi khi vay tiền của cá nhân là lãnh đạo doanh nghiệp thuộc phạm vi phụ trách; phát ngôn, phản ánh không chính xác, thiếu thận trọng về một số vụ việc tại Bộ Y tế; vi phạm quy chế làm việc về quản lý thanh tra, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm… Người vi phạmCao Minh Quang – Đảng viên Thứ trưởng Y tếChỉnh và đốnCẢNH CÁO.

Tham ô, sai trái trong các dự án trồng cao su tại khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn; giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý đô thị và Môi trường tỉnh Đăk Lăk làm chủ đầu tư nhiều dự án, sử dụng nguồn vốn đầu tư trái phiếu Chính phủ, thiếu gương mẫu trong việc đứng tên vay ngân hàng với số tiền lớn trên địa bàn Đăk Lăk, để vợ mua đi bán lại nhiều nhà đất, gây thiệt hại về kinh tế… Người vi phạm: Lữ Ngọc Cư – Đảng viên chủ tịch UBND tỉnh Đăk LăkChỉnh và đốnCẢNH CÁO.

Hoan hô đồng chí Tổng bí thư đã chỉnh và đốn trên cả tuyệt vời!!!

Nhưng…

Chuyện đảng của các đồng chí các đồng chí chỉnh đốn nhau ra sao thì mặc các đồng chí. Hai tên đảng viên này, đối với nhân dân chúng là nhân viên nhà nước lãnh lương bằng tiền thuế của dân. Hệ thống pháp lý ở đâu sao không đem ra xử 2 tên này. Đảng của các đống chí đứng trên đầu luật pháp chăng?

Trả lời ngay: Đảng của các đồng chí không những đứng trên đầu luật pháp mà còn chà đạp luật pháp. Và trò CHỈNH ĐỐN của các đồng chí chỉ là trò hề.

Dân Làm Báo

danlambaovn.blogspot.com

Cảnh cáo thứ trưởng Bộ Y tế và Chủ tịch tỉnh Đắc Lắc

(Nguoiduatin.vn) – Hôm nay, trong kỳ họp thứ 10, Ủy ban Kiểm tra trung ương đã thông báo ra quyết định kỷ luật cảnh cáo đối với thứ trưởng Y tế Cao Minh Quang. Chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc Lữ Ngọc Cư cũng chịu hình thức kỷ luật tương tự.

Theo Thông tấn xã Việt Nam, ngày 14/3, Ủy ban Kiểm tra trung ương khóa 11 đã ra thông báo về kết quả kỳ họp thứ 10, do ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương Đảng, chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Ngô Văn Dụ chủ trì.

Hội nghị đã kết luận một số vấn đề quan trọng, trong đó có việc liên quan đến thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang. Ủy ban Kiểm tra trung ương nhận định, trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, ông Cao Minh Quang đã có những khuyết điểm, vi phạm, như: thiếu gương mẫu, vụ lợi khi vay tiền của cá nhân là lãnh đạo doanh nghiệp thuộc phạm vi phụ trách; phát ngôn, phản ánh không chính xác, thiếu thận trọng về một số vụ việc tại Bộ Y tế. 

 Ông Cao Minh Quang. 

Ông Cao Minh Quang đã nhận xét, đánh giá tùy tiện, không mang tính chất xây dựng đối với cán bộ cấp dưới; vi phạm quy chế làm việc của cơ quan Bộ Y tế trong việc gửi kiến nghị Thủ tướng có nội dung trái với dự thảo Nghị định về quản lý thanh tra, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm khi đã được Bộ Y tế và Bộ Nội vụ thống nhất trình Chính phủ. 

Ngoài ra, ông Quang còn khai nhận học vị tiến sĩ không đúng thực chất văn bằng được cấp theo chương trình đào tạo tại Thụy Điển, cũng như công văn số 965/SHĐ, ngày 12/02/2001 xác định học vị tương đương tiến sĩ của Bộ GD&ĐT.

Những việc làm trên của ông Cao Minh Quang đã vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và quy định về những điều đảng viên không được làm, gây ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ, làm cho uy tín của cá nhân giảm sút. Ủy ban Kiểm tra trung ương quyết định thi hành kỷ luật ông Cao Minh Quang bằng hình thức cảnh cáo.

> Toàn cảnh sự vụ thứ trưởng Cao Minh Quang 

Kỳ họp thứ 10 Ủy ban Kiểm tra trung ương cũng quyết định kỷ luật ông Lữ Ngọc Cư, chủ tịch UBND tỉnh Đăk Lăk do mắc nhiều khuyết điểm, vi phạm.

 Ông Lữ Ngọc Cư. Ảnh: Đài Tiếng nói Việt Nam 

Cụ thể, ông Cư đã cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và sản xuất Lộc Phát khảo sát lập dự án trồng cao su tại khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn; giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý đô thị và Môi trường tỉnh Đăk Lăk làm chủ đầu tư nhiều dự án, trong đó có dự án nâng cấp, mở rộng đường Trần Quý Cáp, thành phố Buôn Ma Thuột; đã sử dụng nguồn vốn đầu tư trái phiếu Chính phủ (từ nguồn vốn dự phòng của dự án đầu tư xây dựng bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên).

Ngoài ra, ông Cư còn quyết định cấp giấy phép, công nhận điều lệ và cho phép thành lập Quỹ tình thương tự nguyện hoạt động trong phạm vi rộng, quyên góp và nhận tiền tài trợ của các tổ chức trong nước và nước ngoài; quyết định tách Quỹ Đầu tư phát triển thành đơn vị hoạt động độc lập và bổ nhiệm giám đốc không báo cáo Thường trực, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; thiếu gương mẫu trong việc đứng tên vay ngân hàng với số tiền lớn trên địa bàn Đăk Lăk, để vợ mua đi bán lại nhiều nhà đất..

Nhận định những vi phạm trên của ông Lữ Ngọc Cư là nghiêm trọng, gây thiệt hại về kinh tế và gây dư luận xấu, làm ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng và uy tín của cá nhân, Ủy ban Kiểm tra trung ương quyết định thi hành kỷ luật ông Lữ Ngọc Cư bằng hình thức cảnh cáo.

Về phía ban cán sự đảng UBND tỉnh Đăk Lăk đã buông lỏng lãnh đạo để UBND tỉnh có các khuyết điểm, vi phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý Nhà nước, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, Ủy ban Kiểm tra trung ương kiến nghị tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định.

Xem xét, giải quyết tố cáo ủy viên Đảng đoàn, bí thư Đảng ủy, phó chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam. 

Qua thẩm tra, xác minh đã nhận thấy có vi phạm về đạo đức, phẩm chất, lối sống và Quy định về những điều đảng viên không được làm, vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật. Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu các tổ chức đảng có liên quan thực hiện quy trình kiểm điểm, xem xét xử lý kỷ luật, báo cáo kết quả về Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Theo Thông tấn xã Việt Nam

PV
http://www.nguoiduatin.vn/canh-cao-thu-truong-bo-y-te-va-chu-tich-tinh-dac-lac-a35351.html

Toà Thánh bày tỏ lập trường về Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo tại Liên Hiệp Quốc.


http://giaophankontum.com/Tin-Tuc-291_Toa-Thanh-bay-to-lap-truong-ve-Nhan-Quyen-va-Tu-Do-Ton-Giao-tai-Lien-Hiep-Quoc.aspx

Thứ Sáu:16-03-2012   1:55:19 GMT +7

(10:03:2012 |06:41 AM)

Vatican (WHÐ 07/03/2012) – Hôm 27 tháng hai năm 2012, Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã khai mạc khóa họp lần thứ 19 tại Geneva, Thụy Sĩ, với sự tham gia của hơn 80 bộ trưởng cùng nhiều quan chức cấp cao từ các quốc gia thành viên và đại diện các tổ chức quốc tế. Khóa họp kéo dài trong 4 ngày.

Phái đoàn Tòa Thánh tham gia Khóa họp này với tư cách Quan sát viên thường trực tại Liên Hiệp Quốc. Ngày 01 tháng 03 năm 2012, Ðức Tổng giám mục Silvano Tomasi đã có bài phát biểu tại Hội đồng này. Trong bài phát biểu, Ðức Tổng Giám mục Tomasi nói rằng ngày nay việc thực hiện quyền con người là một thách đố khó khăn, đặc biệt là đối với các quyền cơ bản và bất khả nhượng như “tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Trong nhiều yếu tố, những thay đổi chính trị, nhận thức sai lầm về vai trò của tôn giáo, thủ đoạn, và sự hiểu biết mơ hồ về chủ nghĩa thế tục, đã dẫn đến tình trạng bất bao dung và thậm chí đàn áp thẳng tay con người vì niềm tin tôn giáo. Quyền tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình trong việc giảng dạy, hành đạo, việc thờ phượng và tuân giữ luật đạo, vốn được đảm bảo bởi luật nhân quyền và các tổ chức quốc tế, lại bị coi thường tại nhiều nơi trên thế giới.

Những chính sách và áp dụng ngột ngạt như vậy khiến cho nhiều công dân muốn đóng góp vào đời sống xã hội và sự tiến bộ ở đất nước họ phải gặp nguy hiểm. Tòa Thánh đánh giá cao việc Hội đồng Nhân quyền thường xuyên quan tâm đến vấn đề chính yếu này cũng như những nỗ lực liên quan và các quyết định do Cơ quan Thủ tục đặc biệt ban hành.

Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia, khoảng cách đang gia tăng giữa các nguyên tắc được mọi người nhìn nhận và việc áp dụng chúng nơi người dân trong đời sống hằng ngày. Những nghiên cứu nghiêm túc đưa ra các dữ liệu đáng tin cậy về các kiểu vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo hiện nay lặp đi lặp lại. Kitô hữu không phải là nạn nhân duy nhất, nhưng các cuộc tấn công khủng bố nhắm vào các Kitô hữu ở châu Phi, Trung Ðông và châu Á đã gia tăng 309% từ năm 2003 đến 2010. Khoảng 70% dân số thế giới sống tại các quốc gia có những hạn chế về tín ngưỡng tôn giáo và hành đạọ, và các cộng đồng tôn giáo thiểu số phải trả giá đắt nhất.

Nói chung, việc gia tăng những hạn chế về tôn giáo có ảnh hưởng đến hơn 2.2 tỉ người. Những người này hoặc không được xã hội bảo vệ, hoặc phải chịu những hạn chế bất công do chính phủ áp đặt, hoặc trở thành nạn nhân của bạo lực do một sự mù quáng bốc đồng. Hiển nhiên là cộng đồng quốc tế cần nỗ lực hơn nữa để bảo vệ mọi người được hưởng quyền tự do tôn giáo và thực hành tôn giáo. Hành động như vậy càng cấp bách vì trong nhiều quốc gia tình hình đang xấu đi và vì báo cáo thực tế về các vi phạm này bị coi nhẹ, mặc dù thực tế, nó cần được nhấn mạnh trong các báo cáo thích đáng.

Tuyên ngôn về Quyền con người cho thấy tôn trọng nhân phẩm của mọi người là nền tảng để xây dựng việc bảo vệ quyền con người. Trong hoàn cảnh hiện nay, cần nhắc lại rằng các quốc gia phải bảo đảm cho mọi công dân của họ được hưởng quyền tự do tôn giáo trên phương diện cá nhân, gia đình, cũng như cộng đồng, và tham gia vào lĩnh vực công cộng. Trên thực tế, tự do tôn giáo không phải là một quyền phát sinh, hoặc được ban phát, mà là một quyền căn bản và bất khả nhượng của con người.

Kết thúc bài phát biểu, Ðức Tổng Giám mục Tomasi nhấn mạnh tôn giáo không phải là một mối đe dọa, nhưng là một nguồn lực. Tôn giáo góp phần vào sự phát triển của các nền văn minh, và điều ấy tốt cho mọi người. Các hoạt động và tự do tôn giáo cần được bảo vệ để sự hợp tác giữa các tôn giáo và xã hội có thể thăng tiến công ích. Một nền văn hóa khoan dung, chấp nhận lẫn nhau và đối thoại là cấp bách. Hệ thống giáo dục và truyền thông đóng vai trò quan trọng bằng cách loại bỏ thành kiến và hận thù khỏi sách giáo khoa, tin tức và báo chí, và phổ biến thông tin chính xác và công bằng về mọi nhóm thành phần trong xã hội. Tuy nhiên, việc thiếu giáo dục và thông tin, vốn tạo điều kiện cho người ta dễ dàng thao túng con người để hưởng lợi về chính trị, lại thường có liên quan đến tình hình kém phát triển, nghèo đói, thiếu tham gia quản lý xã hội một cách hiệu quả.

Một môi trường công bằng xã hội hơn sẽ là mảnh đất màu mỡ cho việc thực hiện mọi quyền của con người. Các tôn giáo là những cộng đồng dựa trên niềm tin và tự do tôn giáo bảo đảm sẽ đóng góp các giá trị đạo đức mà nếu không có các giá trị này thì cũng chẳng có tự do của mọi người. Vì lý do đó, trách nhiệm cấp bách và giúp ích của cộng đồng quốc tế là chống lại khuynh hướng gia tăng bạo lực với các nhóm tôn giáo cũng như chống lại điều sai lầm và thái độ trung lập giả trá nhằm mục đích trung lập hóa tôn giáo trong thực tế.

R.V.A.

“Chiến công” đầu tiên của Tướng CA kiêm Trưởng Ban Tôn Giáo Phạm Dũng?


http://danlambaovn.blogspot.com/2012/03/chien-cong-au-tien-cua-tuong-ca-kiem.html

Danlambao – Liên quan đến việc Linh mục Lui Nguyễn Quang Hoa bị đánh đập tàn nhẫn sau khi đi dâng lễ an táng ở làng Turia Yôp, xã Đăk Hring, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum, vào ngày 23/02/2012. Cho đến nay vẫn chưa có kết luận chính thức cuối cùng về nguyên nhân và thủ phạm từ phía các cơ quan có chức năng.

Website Giáo Phận Kon Tum cho biết:

Được biết, vùng này mỗi Chúa Nhật chỉ có một lễ tại Kon Proh 2, còn làng Turia Pêng nơi có hơn 400 tín hữu thì thi thoảng Cha Lý vào dâng lễ chui trong ngôi “chòi nguyện” khoảng hơn 30m2, mái nhà đụng đầu. Nơi đây các Cha vào làm lễ chính quyền địa phương không cho, nhiều lần họp dân, họp các Yao Phu, họ bảo các Cha đó ở xã khác, nên không được đến đây dâng lễ; nhiều lần dân làng làm đơn xin, Chính Quyền xã cũng không cho. 

Vết thương trên người Linh mục Nguyễn Quang Hoa sau khi bị đánh đập

Theo thông tin từ người dân kể lại, hôm đó có vài công an xã đến “tham dự” lễ tang. Khi lễ an táng kết thúc có một công an rút điện thoại ra và gọi cho ai đó, sau đó Cha Hoa bị đánh. Người dân ở đây rất bất bình khi linh mục đến dâng lễ an táng cho người thân của họ mà bị 3 kẻ lạ mặt đánh trọng thương. 3 kẻ này dân chúng biết là những kẻ đang trong giai đoạn chính quyền địa phương quản chế sau khi ra tù. (Nguồn:  Giáo phận Kon Tum Việt Nam)

Chiều ngày 29/02/2012, Đức Giám mục Kontum Micae Hoàng Đức Oanh đã đến xem xét lại khu vực mà Linh mục Lui Nguyễn Quang Hoa gặp nạn. Trên đường từ nhà nguyện quay về thì được “tiếp đón” bởi một nhóm công an huyện Đăk Hà, do ông Trần Văn Long – đội trưởng đội an ninh dẫn đầu với “khuôn mặt đầy sắc khí, mắt nhăn nheo và trợn trạo”, cùng một công an trợ tá trẻ và hai cán bộ người dân tộc khác. Ông Long cho biết: “Sáng nay công an tỉnh chỉ đạo công an huyện xuống để gặp “anh Hoa” ở dưới Gia Lai rồi.”

 Cuộc “đón tiếp” của nhóm CA đối với Đức Cha Hoàng Đức Oanh

Được biết, đây không phải là lần đầu tiên các linh mục ở Kon Tum bị côn đồ (hay quần chúng tự phát) hành hung. Và việc tổ chức các thánh lễ, các nghi thức cầu nguyện tại đây vẫn đang bị kềm kẹp bởi “chính sách tôn giáo” khá nghiêm ngặt.

Cần nhắc lại rõ câu nói của Đức Tổng Giám Mục Hà Nội – Giuse Ngô Quang Kiệt rằng : “Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải ân huệ xin-cho”. Để thấy rõ quan điểm của chính quyền Việt Nam hiện nay phần nhiều vẫn xem các hoạt động tôn giáo trước hết mang tính an ninh chính trị hơn là sinh hoạt tín ngưỡng thuần tuý.

Bằng chứng rõ nhất là việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa bổ nhiệm Trung tướng Công an Phạm Dũng, Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II làm trưởng ban Tôn giáo Chính phủ.

Vatican-Việt Nam: Phỏng vấn Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hoà bình


http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20120305-phong-van-chu-tich-uy-ban-cong-ly-va-hoa-binh-ve-quan-he-vatican-viet-nam

http://danlambaovn.blogspot.com/2012/03/vatican-viet-nam-phong-van-chu-tich-uy.html

Thanh Phương (RFI) – Trong hai ngày 27 và 28 tháng 2 vừa qua, Nhóm công tác hỗn hợp Vatican-Việt Nam đã mở cuộc họp lần thứ ba tại Hà Nội, sau nhiều tháng bị gián đoạn. Nếu như cuộc họp lần thứ hai của nhóm này vào tháng 6/2010 đã đạt một bước tiến đáng kể là Vatican bổ nhiệm một đại diện không thường trực của Giáo hoàng tại Việt Nam, Tổng giám mục Leopold Girelli, thì cuộc họp lần thứ ba trong tuần qua không có bước đột phá nào thật sự trong việc « củng cố và phát triển quan hệ song phương ».

Bản thông cáo chung do Tòa Thánh công bố ngày 28/2 mô tả cuộc họp diễn ra trong không khí “thân mật, thẳng thắng và tôn trọng lẫn nhau”. Nhưng ngoài những câu chữ mang tính chất ngoại giao, chung chung, bản thông cáo chỉ ghi nhận có một kết quả cụ thể là hai bên đồng ý tạo điều kiện dễ dàng hơn cho công việc của vị đại diện không thường trú của Giáo hoàng, Đức Tổng giám mục Girelli, để Ngài có thể “thi hành sứ mạng tốt đẹp hơn”.

Như vậy là quan hệ Vatican-Hà Nội có vẻ chưa có tiến triển gì rõ rệt theo hướng thiết lập bang giao, trong bối cảnh mà giữa Giáo hội Công giáo Việt Nam với chính quyền còn rất nhiều vấn đề, đặc biệt là liên quan đến các tranh chấp nhà đất. Gần đây nhất có thể đơn cử việc chính quyền muốn phá hủy hoàn toàn cơ sở Đại chủng viện Vĩnh Long để xây Trung tâm thanh thiếu niên mới, một hành động bị coi là xóa dấu vết tôn giáo tại các cơ sở tôn giáo mà Nhà nước đã mượn, mặc dù Tòa Giám mục Vĩnh Long đã viết thư khẩn thiết kêu gọi chính quyền quan tâm đến nhu cầu tôn giáo.

Tại một số địa phương, các giám mục, linh mục vẫn thường bị cản trở khi làm công việc mục vụ, thậm chí bị hành hung, như trường hợp của cha Nguyễn Quang Hoa, cha phó của Giáo xứ Kon Hring, tỉnh Kontum. Ngày 23/2, sau khi cử hành một tang lễ tại làng Kon Hnong trở về, vị linh mục này đã bị ba thanh niên lạ mặt đánh đập dã man đến trọng thương, thậm chí bị dập phổi bên phải. Người dân địa phương nghĩ rằng ba thanh niên đó là do công an xã chỉ đạo hành hung cha Hòa. Không biết điều đó có đúng hay không, chỉ thấy là ba thủ phạm cho tới nay vẫn chưa bị chính quyền bắt giữ và xử lý theo pháp luật.

Trong bối cảnh như vậy, làm sao có thể đạt được công lý và hòa bình như mong muốn của các vị giám mục Việt Nam khi thành lập Uỷ ban Công lý và Hòa bình, mà chủ tịch đương nhiệm là Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh? Nhân cuộc họp giữa Vatican và Việt Nam trong tuần qua, sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn Đức Cha Nguyễn Thái Hợp:

RFI: Kính thưa Đức Cha Nguyễn Thái Hợp, trước hết Đức Cha có nhận định như thế nào về kết quả cuộc họp vừa qua giữa Vatican với Việt Nam?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Bản thông cáo chung của cuộc họp có nhiều điểm tích cực đối với cả hai bên, về mặt ngôn ngữ cũng như về thành quả. Đây cũng là bước đi tiếp của một quá trình đã được đề ra trong cuộc đàm phán giữa hai bên và hy vọng đến cuộc họp thứ tư, được dự định tại Vatican, có thể sẽ có những điểm sáng sủa hơn.

Cuộc họp này đặc biệt nhấn mạnh rằng sẽ tạo cơ hội để Đức Tổng Giám mục Girelli, đại diện không thường trú của Tòa Thánh có điều kiện để Ngài có thể hiện diện và hoạt động ở Việt Nam một cách hiệu quả hơn, vì trong thời gian qua, sự hiện diện của Ngài cũng chỉ là để đi viếng thăm và thăm dò tình hình, sự hiện diện này cũng còn rất giới hạn. Mỗi lần vào như vậy cũng chỉ là một tháng và cũng chỉ đưọc vào những lần nhất định thôi. Chúng tôi hy vọng là trong năm tới, với cuộc họp này, Ngài sẽ hiện diện và đi lại ở Việt Nam dễ dàng hơn.

RFI: Tuy sự hiện diện của Đức cha Girelli còn gìới hạn, nhưng những lần thăm viếng Việt Nam khá là thường xuyên của vị đại diện của Đức Giáo hoàng có mang lại những gì cụ thể cho quan hệ Vatican-Việt Nam?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Đối với Nhà nước thi những chuyến viếng thăm đó cũng giúp giảm bớt những nghi ngờ và lo sợ về sự hiện diện của Ngài. Nhưng thật sự là trong năm qua, sự hiện diện này, với con người của Đức Tổng giám mục Girelli, đã tạo ra những nối kết. Đặc biệt, Ngài không chỉ là đại diện không thường trú của Tòa thánh đối với Nhà nước, mà Ngài còn là đại diện của Đức Thánh Cha. Ngài đi gặp gỡ giáo dân như là một vị mục tử đại diện Đức Thánh Cha và Ngài đã đi 26 giáo phận. Rất nhiều nơi giáo dân đã hồ hởi đón tiếp Ngài như đón tiếp một vị đại diện của Đức Thánh Cha và biểu lộ tâm tình của người Việt Nam đối với Đức Thánh Cha, người kế vị Thánh Phêrô ở trần gian. Tôi thấy có nhiều điểm tích cực

Chúng tôi, hàng giám mục, cũng đã rất nhiều lần đối thoại với Ngài. Lần này, Giáo tỉnh Hà Nội cũng đã gặp gỡ phái đoàn trước khi phái đoàn gặp gỡ và làm việc với Nhà nước. Cuộc gặp gỡ đó cũng đã có nhiều điểm tích cực.

RFI: Thưa Đức Cha, những chuyến đi của Đức Tổng Giám mục Girelli phải chăng cũng đã giúp Vatican hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của Giáo hội Việt Nam hiện nay, nhất là tình hình những giáo phận xa xôi hiện còn gặp rất nhiều khó khăn, để có một hình thức đối thoại hiệu quả hơn với Nhà nước Việt Nam, hầu giúp cải thiện tình hình của Giáo hội trong nước ?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Tôi thấy một số người vẫn nghĩ rằng Vatican không biết gi hoặc không rõ về tình hình Việt Nam. Tôi nghĩ rằng đó là một cái nhìn hơi phiến diện và vội vàng. Theo tôi biết qua đối thoại với một số nhân vật Vatican, Tòa Thánh có rất nhiều kênh để nắm tình hình và cũng nhận được thông tin từ khá nhiều nguồn.

Nhưng dĩ nhiên, sự hiện diện của Đức Tổng giám mục Girelli, với quan sát tại chỗ, gặp gỡ tại chổ với nhiều người, cũng bổ túc thông tin của Tòa Thánh về tình hình Việt Nam. Ngài cũng rất là nhạy bén. Ngài nhìn và hiểu rất rõ tình hình muôn màu muôn sắc ở Việt Nam, nhiều khi không phải là do chủ trương chung, mà là lệ thuộc rất nhiều ở địa phương. Mỗi địa phương có một sắc vẻ khác nhau.

RFI: Chuyện vừa xảy rại tại Kontum ( vụ hành hung dã man cha Nguyễn Quang Hoà), đây phải chăng là những sự cố lẻ tẻ, chứ không hẳn là một chính sách chung nhằm cản trở việc thực hiện tự do tôn giáo ở Việt Nam?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Có lẻ là cả hai, chứ không hoàn toàn là một. Đối thoại vẫn đang gay go giữa quan niệm hữu thần và vô thần. Hai quan điểm này luôn có những đối kháng đó. Ngoài ra, trên nguyên tắc, Nhà nước cũng tuyên bố tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn trọng các tôn giáo. Nhưng trên thực tế vẫn có những khó khăn và khó khăn đó nhiều hay ít nhiều khi cũng do tình hình địa phương đó nữa.

RFI: Với tư cách là chủ tịch Uỷ ban Công lý và Hòa bình, “chi nhánh” của Hội đồng Công lý và Hòa bình của Tòa Thánh, theo Đức Cha, việc thực hiện công lý và hòa bình ở Việt Nam còn những vấn đề gì đáng nêu lên?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Việc thực hiện công lý và hòa bình là ước mơ và con đường rất dài, khó khăn và diệu vợi ở khắp mọi nơi trên thế giới. Đặc biệt ở Việt Nam thì con đường đó dài và gồ ghề hơn. Chúng ta thấy còn rất nhiều vấn đề phải nêu lên. Tôi nghĩ rằng có lẽ chúng ta chỉ mới đi những bước đầu tiên và mỗi ngày có thêm những thách đố khác nữa.

Vừa rồi chúng tôi vừa có một cuộc họp nội bộ để nhìn lại những hoạt động của chúng tôi và cũng có một sự chuyển đổi, bổ túc nhân sự nhiều hơn và rõ rệt hơn trong Uỷ ban. Chẳng hạn cha cựu Tổng thư ký của Uỷ ban thì sẽ chuyển sang một lĩnh vực khác, bởi vì ở Việt Nam thời hậu chiến, cũng như trong những năm vừa qua có rất nhiều vấn đề về con người, về tâm linh, sức khoẻ tâm thần, cho nên cha Nguyễn Ngọc Sơn sẽ chuyên tâm hơn về vấn đề tâm lý của giới trẻ. Chúng tôi sẽ có một Tổng thư ký mới, lo nhiều hơn cho vấn đề xã hội, công lý.

RFI: Thưa Đức Cha, khi Uỷ ban Công lý và Hòa bình được thành lập, rất nhiều người trông chờ là Uỷ ban này sẽ có tiếng nói mạnh mẽ hơn, cụ thể hơn trong những sự việc xảy ra thường xuyên, đặc biệt liên quan đến Gíáo hội Việt Nam, chẳng hạn những vụ tranh chấp đất đai giữa Giáo hội với các chính quyền đị phương. Vai trò của Uỷ ban phải là như thế nào, tức là làm sao có tiếng nói, nhưng không để bị xem như là can thiệp vào lĩnh vực chính trị dưới con mắt của chính quyền?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Một số người vẫn nhiều khi vô hình trung biến Uỷ ban thành một thứ uỷ ban đòi đất, hay một thứ bao công. Có lần tôi nói đùa như vậy. Có lẻ do hoàn cảnh của Việt Nam, do cái luật đất đai mà chúng tôi cũng đã nhiều lần lên tiếng rằng nó có quá nhiều vấn đề. Chính vì thế mà hơn 80% các vụ khiếu kiện ở Việt Nam là hậu quả của luật đất đai không phù hợp. Nó không phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, với kinh tế thị trường, đi ngược với Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, vì không chấp nhận quyền tư hữu của người dân. Đây cũng là cái luật đem lại thiệt thòi cho nông dân. Nông dân không thể sở hữu đất vĩnh viễn và cũng không có quyền chuyển nhượng lại cái quyền đất đai đó cho con cháu mình. Hơn nữa, luật đất đai cũng là nguồn tham nhũng rất lớn. Trên nguyên tắc, đất đai thuộc về nhân dân, nhưng do Nhà nước quản lý. Làm sao có thể giải thích điều đó? Phải chăng cái nguyên tắc đó trên thực tế không lý tưởng như người ta nói.

Chính vì vậy, từ khi xuất hiện Uỷ ban Công lý thì chúng tôi phải đối diện với vấn đề đó. Một số can thiệp lúc đầu cũng đã đi ngay vào vấn đề này. Nhưng một trong những nhiệm vụ lớn của chúng tôi là phổ biến giáo huấn về Xã hội Công giáo, một cách để loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay. Và để loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay thì phải luôn luôn đi vào mọi lĩnh vực: cuộc sống, xã hội, chính trị kinh tế, trong đó quyền của con người vẫn được đề cao. Chính vì vậy, hoạt động của Uỷ ban Công lý và Hòa bình rộng hơn là chuyện đòi đất.

Nhưng không thể là không can thiệp vào chuyện đòi đất, vì 80% khiếu kiện ở Việt Nam là liên quan đến đất đai và càng ngày khiếu kiện đó càng mang tính chất nổi cộm và nhạy cảm, như vụ của ông Vươn ở Hải Phòng. Chính chúng tôi cũng đã ký tên trong những bản kiến nghị đó.

Chính vì vậy có một số người đòi hỏi quá và biến chúng tôi thành như một cơ quan đòi đất và muốn chúng tôi can thiệp vào chuyện Nhà nước, mà theo quan điểm chung, thì Giáo hội tôn trọng vai trò của chính quyền dân sự. Giáo hội góp ý, chỉ lên tiếng. Chúng tôi chỉ dừng ở chỗ là đưa ra những định hướng, những nhận định, chứ không thể là thay thế hay can thiệp vào chính quyền dân sự, vì đó không phải là mục đích của chúng tôi.

RFI: Thưa Đức Cha, trong cuộc họp vừa qua giữa Vatican với Việt Nam thì hai bên cũng đã nhấn mạnh đến Giáo huấn của Giáo Hoàng Benendicto 16 về việc “ tín hữu Công giáo tốt cũng phải là một công dân tốt”. Đây cũng là lập luận mà chính quyền thường nêu ra để cho rằng người Công giáo cũng phải chấp hành luật lệ như những công dân khác, chứ không nên đòi hỏi những gì cao hơn về tự do tôn giáo. Ý kiến của Đức Cha như thế nào?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Chúng tôi cũng đã có làm hai cuộc hội thảo nhỏ, nhưng vẫn chưa đi đến một kết luận có tính cách nhất thống về điểm đó. Có lẽ trong tương lai còn phải suy nghĩ rất nhiều. Một số cán bộ giải thích rằng trong đất nước hôm nay rất dễ dàng thực hiện việc “ một người Công giáo tốt có thể là một công dân tốt”. Trên nguyên tắc là như vậy, nhưng trên thực tế thì rất khó. Một số anh em Công giáo, những người rất thành tâm thiện chí, thấy rằng trong đất nước, trong xã hội chúng ta, khi mà những giá trị của đạo đức, của luật pháp và giá trị của con người băng hoại như vậy, mà nhiều khi nhưng giá trị đó được một số cơ chế, một số quan chức coi như là chấp nhận, thì không chỉ là một người Công giáo tốt, mà ngay cả một công dân tốt cũng không thể thực hiện được trong một cái cơ chế như thế như vậy. Nói câuu đó một cách không có phân tích và không có nghiên cứu thì nhiều khi trở thành như là tuyên truyền. Chúng tôi thấy rằng sẽ cố gắng để làm sao mà thực hiện được điều đó.

Nhưng Đức Giáo Hoàng cũng yêu cầu rằng để thực hiện điều đó thì người Công giáo phải cộng tác một cách chân thành, nhưng đồng thời cũng thẳng thắng nói lên tiếng nói của lẽ phải, của công bằng. Hai điều đó phải luôn luôn đi đôi với nhau. Trong thực tại của cuộc sống, điều đó là điều rất khó, đòi hỏi phải có đối thoại, đòi hỏi phải có biến đổi rất nhiều. Tôi thấy đây là một thách đố đối với người Công giáo chúng tôi, cũng như đối với tất cả những người công dân Việt Nam trong thực tế hôm nay.

RFI : Xin cám ơn Đức Cha Phalô Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch Uỷ ban Công lý và Hòa bình.

Thanh Phương

6.3.12

7 Ý kiến:

– Nếu nội dung phản hồi quá dài sẽ bị máy chủ BlogSpot hiểu lầm là Spam (không cho hiện lên), xin bạn vui lòng chia nội dung thành nhiều phần, hoặc chờ Dân Làm Báo cho xuất hiện lại phản hồi

– Phản hồi sẽ bị xóa nếu : viết chữ Việt không dấu, hoặc sử dụng quá nhiều chữ IN HOA 

HỌC THUYẾT XÃ HỘI CÔNG GIÁO VÀ TRUYỀN THÔNGMar 6, 2012 07:22 PM

Các nguyên tắc của HTXHCG.

– Nguyên tắc nhân vị

“Giáo Hội nhìn thấy nơi mỗi người, nam cũng như nữ, hình ảnh sống động của chính Thiên Chúa. Hình ảnh này mỗi ngày được triển khai thêm một cách trọn vẹn và sâu sắc hơn nơi mầu nhiệm Đức Kitô, hình ảnh tuyệt hảo của Thiên Chúa, Đấng duy nhất đã mạc khải Thiên Chúa cho con người và mạc khải con người cho chính con người” (105)
– Nguyên tắc công ích

“Mọi khía cạnh trong đời sống xã hội đều phải liên hệ đến công ích, nếu muốn đạt được ý nghĩa trọn vẹn nhất, công ích xuất phát từ chính phẩm giá, sự thống nhất và bình đẳng của hết mọi người. Hiểu theo nghĩa ban đầu, và được chấp nhận rộng rãi, công ích là “toàn bộ những điều kiện xã hội cho phép con người, tập thể hay cá nhân, đạt tới sự phát triển cách đầy đủ và dễ dàng hơn” (164)

– Nguyên tắc bổ trợ

“Bổ trợ là một trong những định hướng bền vững và đặc thù nhất của Học thuyết Xã hội Công giáo, và đã có mặt trong học thuyết ấy ngay từ văn kiện xã hội quan trọng đầu tiên” (185)
– Nguyên tắc liên đới

Giáo huấn của Hội Thánh đã nhiều lần nhấn mạnh rằng “Sự liên đới làm nổi bật một cách đặc biệt bản tính xã hội nội tại của con người, sự bình đẳng của mọi người về phẩm giá và quyền lợi, cũng như con đường chung cho các cá nhân và các dân tộc tiến tới sự thống nhất với một ý thức ngày càng cao hơn.”

Trả lời

Tiếp theoMar 6, 2012 07:23 PM

Các giá trị của HTXHCG.

– Sự Thật

Mọi người có ba nghĩa vụ đối với sự thật: hướng tới sự thật, tôn trọng sự thật và làm chứng về sự thật một cách có trách nhiệm.

– Tự Do

“Tự do là dấu chỉ cao đẹp nhất nơi con người, cho thấy con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa”. Và như vậy, tự do là dấu chỉ phẩm giá con người. (199)

– Công Lý

Công lý chính là “có ước muốn kiên định và vững chắc trả những gì mình mắc nợ Chúa và tha nhân”.

Khi công lý được thực thi cùng với bác ái và liên đới, thì nó sẽ thành con đường dẫn đến hoà bình (x. Isaia 32,17; Gc. 3,18).

– Tình Yêu

Giáo Hội trung thành với giới răn trọng nhất mà Đức Giêsu đã truyền dạy, nhấn mạnh rằng công lý mà không có tình yêu thì “công lý có thể phản bội chính mình”, nghĩa là nỗ lực thực thi công lý lại có nguy cơ làm phương hại đến công lý. Vì vậy, Giáo Hội dạy “Giữa các đức tính nói chung, và đặc biệt giữa các đức tính, các giá trị xã hội và tình yêu, có một mối liên kết rất sâu xa mà chúng ta cần phải nhận thức càng ngày càng đầy đủ hơn”

Trả lời

Tiếp theoMar 6, 2012 07:24 PM

HTXHCG VÀ THỰC TẠI XÃ HỘI HÔM NAY.

– Sự Thật.

– Xã hội VN ngày nay chứng kiến nhiều điều đáng buồn, nhưng điều đáng buồn nhất là sự giả dối tràn lan ở mọi lãnh vực.

– Đối với những người có lương tâm ngay chính, nói dối là điều khó khăn. Nhưng trong xã hội này, nói dối đã thành điều quá dễ dàng, thậm chí người ta xác tín điều họ nói dối, lâu ngày sự giả dối được coi là sự thật. Rồi có ngày sự thật được phát hiện, người ta lại bảo những người phát hiện là kẻ nói dối! Tại sao lại như vậy được? Tại sao?

– Công Lý

Xét 3 yếu tố

– Phải tôn trọng công bằng xã hội: Hãy nhìn vào các lãnh vực xã hội, chúng ta dễ dàng nhận thấy không có công bằng xã hội.

– Phân phối tài sản hợp lý: Nhìn vào tài sản của Giáo Hội, nhìn những căn nhà không ra nhà và nhìn vào tài sản của ông nọ bà kia rồi so sánh. Hợp lý chưa?

– Luật pháp phải công bằng, chính trực: Nếu ai làm trong ngành luật sẽ thấy luật pháp thế nào? Hãy nhìn các giáo dân Thái Hà, Thánh Giá Đồng Chiêm, Loan Lý, Tam Tòa, Cồn Dầu mới đây…

– Hoà Bình

“Chúng ta hãy cầu xin cho nền hòa bình được xuất hiện nơi đây, hòa bình mà các thiên sứ đã hát lên trong đêm thánh này”. Như thế, ngài muốn đến nền hoà bình mà thiên thần Chúa đã loan báo cho nhân loại thời Đức Kytô Thiên Sai, nền hoà bình khi con người được nhìn nhận đúng phẩm giá, nền hoà bình mà ngài đã khẳng định trong sứ điệp hoà bình năm 2008: “nhân vị là trọng tâm của hoà bình”.

Trả lời

Tiếp theoMar 6, 2012 07:25 PM

– Đối Thoại

Điều kiện đối thoại là “Phải coi luật luân lý phổ quát, được khắc ghi trong tâm hồn con người, là luật hữu hiệu và không thể xoá bỏ như một biểu hiện sống động của lương tri được chia sẻ của nhân loại, một “quy tắc thành văn” để chúng ta dựa vào đó mà xây dựng tương lai thế giới” (ĐGH Gioan Phaolô II, Diễn văn gửi Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc kỳ họp thứ 50). Sẽ là ảo tưởng khi muốn đối thoại với những con người chà đạp luật luân lý, luôn đặt nền tảng trên sự giả dối, kết án và bạo lực.

– Tự Do

Tự do là được giải thoát. Chúa Giêsu nói “Sự thật giải thoát các con”. Không có Sự Thật thì không thể có tự do.

III. VÀI NHẬN ĐỊNH

Vai trò người tín hữu giáo dân

1. Trong Giáo Hội

– HTXH chưa được phổ biến rộng rãi. Lý do? Giáo Hội dạy “Phải học biết HTXHCG”
– Ngày càng có nhiều người tín hữu giáo dân tham gia vào các hoạt động của Giáo Hội. Đó là tín hiệu đáng mừng. Nhiều người được coi là thành viên DCCT bên ngoài tu viện! Đó là vai trò chứng nhân của Kytô hữu.

– Các nhóm giáo dân cần được phát triển. Cần học hỏi qua các nhóm, hiệp hội, phong trào.

Trả lời

Tiếp theoMar 6, 2012 07:25 PM

Với Xã Hội

– Giáo dân đang cố gắng đã làm tròn chức năng của mình. Giáo dân đưa sáng kiến, truyền đạt tinh thần Kytô giáo vào trong xã hội trần thế.

– Nỗ lực hội nhập văn hoá, giáo dục, xã hội, chính trị. Giáo Hội dạy: “Các Kitô hữu phải hoạt động sao cho toàn bộ giá trị về chiều hướng tôn giáo của văn hoá được nhìn nhận. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách đối với phẩm chất của cuộc sống con người, cả về mức độ cá nhân lẫn xã hội.”

– Phục vụ trong các lãnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

– Nói lên sự thật. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhắc nhở “đừng sợ làm nhân chứng cho phẩm giá của mỗi con người, từ lúc con người thụ thai cho đến khi chết”.

Trả lời

Tiếp theoMar 6, 2012 07:26 PM

VÀ TRUYỀN THÔNG CÔNG GIÁO.

1. Truyền Thông Công Giáo là mối quan tâm của HTXHCG

Trong việc thăng tiến một nền văn hoá đích thực, giáo dân sẽ đặt trọng tâm vào các phương tiện truyền thông đại chúng, và trên hết, bằng cách kiểm tra lại những nội dung của vô số những chọn lựa mà người ta thực hiện.

2. HTXH hướng dẫn Truyền Thông Công Giáo

– Giáo Hội trao tặng một truyền thống lâu dài về sự khôn ngoan, ăn rễ sâu trong Mạc Khải của Thiên Chúa và trong suy tư của con người.

– Tín hữu giáo dân sẽ coi các phương tiện truyền thông như những công cụ tạo nên và tăng cường sự liên đới.

– Bổn phận thứ nhất của những người sử dụng phương tiện truyền thông là nhận định và chọn lọc.

3. Truyền thông CG và các vấn đề tôn giáo xã hội vài năm qua

– TTCG đóng vai trò lớn lao trong việc cỗ võ Công Lý và Sự Thật; giúp dân Chúa sống liên đới; thông tin đa chiều; giúp “thắng” những chiếc xe lao xuống…

IV. KẾT LUẬN

1. Người làm truyền thông Công Giáo cần thấm nhuần HTXHCG, bằng cách đọc, suy tư, học hỏi, chia sẻ và áp dụng trong từng bài viết cũng như cách sống của mình. Chúng ta có thể tìm đọc sách “Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội Công Giáo” do Ủy Ban Bác Ái Xã Hội, HĐGMVN xuất bản, hoặc có thể vào đọc ở đây:

Trả lời

Cúc TrắngMar 7, 2012 01:52 AM

“Như ngày xưa và ngay cả bây giờ, mỗi khi ngôi Thánh đường hoặc tháp chuông đã hoàn thành, người ta đặt trên nóc nhà hình con gà trống. Hình ảnh này tượng trưng đời sống Công giáo. Cũng giống thế, được đặt trên ngôi nhà thiêng liêng của Công Đồng, Uỷ Ban này (Uỷ ban Công lý và Hoà bình) không có nhiệm vụ nào khác bằng gìn giữ con mắt của Hội Thánh thức tỉnh, quả tim của Hội Thánh rung cảm và bàn tay của Hội Thánh sẵn sàng đưa hành động bác aí đến với thế giới, như nhiệm vụ của Hội Thánh đòi hỏi, ngõ hầu xúc tiến phát triển các dân tộc nghèo khổ, và cổ vũ thực hiện công bình xã hội giữa các quốc gia.” (Paul VI)

Biến cố Cồn Dầu: mục tử hay những kẻ chăn chiên thuê


http://danlambaovn.blogspot.com/2012/03/bien-co-con-dau-muc-tu-hay-nhung-ke.html#more

Nguyễn Cồn Dầu (TNCG) – Mấy ngày gần đây người giáo dân Cồn Dầu đang âu lo vì sự xuất hiện của công an thành phố và quận Cẩm lệ. Công an đã đến nhà thờ buộc cha quản xứ Nguyễn Tấn Lực về thành phố để ký giấy đồng ý phá vỡ Thánh Giá và bờ rào bao quanh khu nghĩa trang.

Trong thánh lễ ngày 11 tháng 3 năm 2012, linh mục Nguyễn Tấn Lục đã giảng trong nhà thờ là: “Nhà cầm quyền cs thành phố bắt giáo dân phải di dời tất cả các mộ phần của ông bà tổ tiên cùng với các xác thánh anh hài và xác thánh thầy Rất. Ở đây cũng xin nói rõ về 1 vị tu sĩ đã cống hiến cuộc đời phụng sự Chúa và giáo xứ Cồn Dầu. Vị đó là thầy Rất. Trong thời gian khi Cộng Sản chưa cướp được miền Nam Việt Nam, thầy Rất là người đã nhiệt tình phục vụ và bảo vệ xứ đạo Cồn Dầu. Thầy đã bị Cộng Sản bắt đem đi và chặt làm 3 khúc. Sau này nhờ những người anh em lương giáo đã chỉ cho Cha Tadeo Nguyễn Hữu Mừng địa điểm mà CS đã vùi lấp thầy để đem xác thầy về an táng dưới chân Thánh Giá của đất thánh Cồn Dầu cùng những hài nhi bị chết trong mùa lũ lụt”. 

Ngày nay, do sự chỉ đạo của Bí Thư Thành Ủy Nguyễn Bá Thanh, Công an thành phố, Quận, Phường đã đến gây áp lực và dọa nạt. Công An đã đến từng nhà đe dọa và nói thẳng vào giáo dân như sau: “Các người đừng có nghe lời những kẻ xấu xuyên tạc. Biết điều hãy đi nhận tiền đền bù, nếu không đến tháng Sáu năm nay thì sẽ bị chính quyền cưỡng chế, đuổi ra khỏi làng.” 

Trong những năm qua người dân giáo xứ Cồn Dầu đã yêu cầu nhà cầm quyền địa phương để yên cho họ được cư ngụ tại khu đất mà tổ tiên, ông bà của họ đã bao đời mòn công tạo dựng trong mồ hôi nước mắt và chính nơi đây tổ tiên, ông bà của họ đã an nghỉ. Qua truyền thống văn hóa Việt nam và trong niềm tin Công giáo, những người quá cố tuy đã ra đi, nhưng họ vẫn luôn hiện diện với con cháu. Con cháu có bổn phận tưởng nhớ và báo hiếu đối với tổ tiên ông bà. Nơi chôn cất tổ tiên, ông bà với người giáo dân Công giáo là đất thánh. Ngày nay nhà cầm quyền Đã Nẵng qua Nguyễn Bá Thanh cầm đầu đã muốn chiếm đoạt khu đất linh thiêng của giáo dân Cồn Dầu để kinh doanh tư lợi. Nhà cầm quyền không những đã chiếm đoạt ruộng nương đất đai trồng trọt của người dân, nay họ lại còn muốn cướp đi phần còn lại là thờ phượng và phần đất thánh nơi tổ tiên, ông bà của người giáo dân đã an nghỉ bao năm qua. Nguyễn Bá Thanh sẽ phải đền bù tội lỗi của mình về tội ác của nó đối với giáo dân Cồn Dầu và những người đã khuất.  

 GM Châu Ngọc Tri và Bí Thư Thành Ủy chủ tịch Nguyễn Bá Thanh 

Bí Thư Thành Ủy chủ tịch Nguyễn Bá Thanh đã chủ chốt trong vụ chiếm đất đai của giáo dân hầu bán lại cho nhóm đầu tư để làm tư lợi. Ông đã dùng bạo lực để đàn áp người dân nhất là qua vụ dùng lực lượng Công An vũ trang để tấn công người giáo dân khi họ đưa bà cụ Hồ thị Nhu vào khu đất thánh để an nghỉ với những người thân theo ý nguyện của bà trước khi nhắm mắt. Và họ đã tiếp tục đàn áp và khủng bố người giáo dân sau đó. Nguyễn Bá Thanh đã vi phạm nghị định 69 về di dời đất đai của nhà nước Việt Nam. Khi người giáo dân đưa ra những điều của nghị định nhà nước Bí Thư Nguyễn Bá Thanh đã nghênh ngang trả lời, “Nghị định 69 à? Tôi sẽ cho nghị định 70 chứ 69 mà làm gì.” Một lãnh đạo nhà nước nhưng đã coi thường pháp luật không trách gì trong tiến trình cưỡng đoạt đất Nguyễn Bá Thanh đã gọi người giáo dân là “bọn Răng hô trán vồ lui ra sau.” Sau ngày đàn áp Công An thành phố Đà Nẵng đã đánh chết anh Nguyễn Thành Năm và bỏ tù cùng tra tấn một số giáo dân để đến nỗi hơn 60 người đã bỏ đất đai để trốn thoát qua những quốc gia lân cận.

Người dân Việt Nam đã và đang trải qua những thối nát của tham nhũng trong hệ thống chính quyền Cộng Sản, sự tha hóa về hệ thống giáo dục, nhân phẩm con người. Trong những năm cầm quyền Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thành công đưa dân tộc xuống vực thẳm của nghi kỵ và lừa dối. Việc lừa dối này đã thấm sâu vào nhân cách con người Việt Nam và ngay cả trong Giáo Hội Công Giáo. Ngày 5 tháng 3 vừa qua GM Nguyễn Thái Hợp trên cương vị của một chủ tịch Ủy Ban Công Lý & Hòa Bình đã khẳng định: “Giáo hội góp ý, chỉ lên tiếng. Chúng tôi chỉ dừng ở chỗ là đưa ra những định hướng, những nhận định, chứ không thể là thay thế hay can thiệp vào chính quyền dân sự, vì đó không phải là mục đích của chúng tôi.” Và ngài còn phân bua, “Một số người vẫn nhiều khi vô hình trung biến Uỷ Ban thành một thứ uỷ ban đòi đất, hay một thứ bao công…” Đã biết người giáo dân ngày nay hiểu rằng không ai đòi hỏi ủy ban CL&HB hoặc hàng giáo phẩm CG VN đi đòi đất cho người dân hoặc cho Giáo Hội, nhưng liệu GH có thể im tiếng làm ngơ khi mà sinh mạng người dân mỗi ngày mỗi rơi vào vòng oan khiên? Khi mà nhân quyền con người không được tôn trọng? Khi công lý của người dân thấp cổ bé họng không được coi ra gì? Và nhất là khi đất nước đang bị mất dần mất mòn bởi tay ngoại bang phương Bắc? Khi ngư dân bị bắn và thả trôi trên biển cả của quê hương? Giáo Hội đã gióng lên tiếng nói gì để khi một mai toàn đất (nước) Việt Nam rơi vào tay Tàu Cộng? Phải chăng lời nói trên của GM Hợp là một sự lừa dối?

 CSCĐ ngăn cản đám tang tại cồn dầu. 

Và GM Bùi Văn Đọc có lần tuyên bố, “Nếu có ai không thích Cộng Sản thì người ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ.” Quả là một lời tuyên bố thiếu trách nhiệm của một người chăn chiên lành. Lên tiếng chỉ trích tà quyền, sự ác với những tệ đoan, những bất công xã hội là trách nhiệm của mọi người công dân tốt và là trách nhiệm của một Mục Tử chân chính. Không ai yêu cầu GM khích bác con người CS, nhưng sự trông mong của giáo dân là tiếng nói của lẽ phải và sự thật. Người giáo dân mong đợi nơi hàng giáo phẩm và giáo quyền là sự bảo vệ công lý cho dù phải lấy mạng sống mình mà bảo vệ. Đó là con đường mà đức Chúa Giê su đã làm và đòi hỏi các môn đệ của ngài làm theo. Không cần phải dựa vào ai hay phán quyết nào để đánh giá về vấn đề tham nhũng tại Việt Nam ngày nay, nhưng cứ nhìn vào sự chênh lệch của các quan chức và người dân, của các vị được gọi là “chủ chăn” và “con chiên” ta có thể nói hố sâu bất công tại Việt Nam đã không còn nói là đang xuống dốc được nữa mà là nó đang nằm sâu tận đáy vực thẳm rồi. Nhân cách, nhân tâm con người, nhất là những của những kẻ cầm cân nẩy mực không còn nhạy cảm trước những thương tâm đang xảy ra cho người dân nữa.

Hôm nay, nhà cầm quyền Đà Nẵng tiếp tục khủng bố khốc liệt giáo xứ, giáo dân Cồn Dầu với âm mưu cưỡng chiếm toàn bộ làng Cồn Dầu và xóa bỏ hoàn toàn một giáo xứ tôn giáo mà đã có lịch sử gần hai thế kỷ nay. Ngày nay sự bách hại tôn giáo của nhóm cầm quyền CS thật tinh vi vì họ đã và đang sử dụng chính người của giáo hội để bách hại Giáo Hội mà người đứng đầu Giáo Hội địa phương là GM Châu Ngọc Tri. Trong bài Đức cha Châu Ngọc Tri đang ở đâu? được đăng tải trong trang mạng Nữ Vương Công Lý cho thấy hàng giáo phẩm Công Giáo Việt Nam đã nhu nhược không những không bảo vệ được người giáo dân mà lại còn tiếp tay với bạo quyền. Họ ngồi yên nhìn giáo dân mình bị đàn sói lang cắn xé và phân tán. Niềm tin vào hàng giáo phẩm Công Giáo, nhất là hàng giáo phẩm Công Giáo Việt Nam đã không còn tốt đẹp như trước, khi mà những vị Chủ Chăn, những vị có nhiệm vụ chăn dắt đàn chiên nay lại im lặng và có khi còn tiếp tay với bạo quyền để gây bất công cho giáo dân mình. GM Châu Ngọc Tri đã bỏ rơi 99 con chiên cho đàn sói cắn xé và không phải để đi tìm một con chiên lạc nhưng là tìm sự an thân cho riêng cá nhân và địa vị của ngài. Đã đến lúc người Giáo Dân Công Giáo Việt Nam nói chung và người Giáo Dân giáo phận Đà Nẵng nói riêng yêu cầu Tòa thánh Vatican thay đổi người chủ chăn biết hy sinh vì đàn chiên chứ không phải là một tên làm thuê mướn vì họ không thể ngồi yên để nhìn quyền tự do Tôn giáo của mình bị tước đoạt, nhưng phải biết tự mình đứng lên để bảo vệ quyền căn bản con người của mình cho dù phải thí mạng sống mình cho Công lý.

Lời nói của GM Nguyễn Thái Hợp cũng như của GM Bùi Văn Đọc cũng như sự im lặng của giáo quyền không thể biện minh cho niềm tin Giáo Hội Công Giáo được bộc bạch qua Hiến Chế Mục Vụ của Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay về sự liên quan mật thiết giữa Giáo Hội và toàn thể gia đình các dân tộc rằng, “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ.” Lời của đức Giêsu, người đã nói thẳng vào mặt của kẻ đàn áp và gây bất công họ cho người dân nghèo, “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18:8) đáng làm cho chúng ta suy gẫm về hiện trạng Giáo hội Việt Nam trong bối cảnh đất nước ngày nay!

Nguyễn Cồn Dầu (TNCG)

http://thanhnienconggiao.blogspot.com/2012/03/bien-co-con-dau-muc-tu-hay-nhung-ke.html

LẠI PHẢI NÓI VỀ QUAN TRÍ VIỆT NAM


http://caulacbonhabaotudo.wordpress.com/2012/02/28/l%E1%BA%A1i-ph%E1%BA%A3i-noi-v%E1%BB%81-quan-tri-vi%E1%BB%87t-nam/#more-9723

songchi’s blog – Suốt trong thời gian qua, khi vụ Tiên Lãng nổ ra trong lòng xã hội Việt Nam như một tiếng bom và dư chấn của nó cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu ngừng, người dân lại có dịp được “thưởng lãm” chân dung các quan chức VN-ở đây là quan chức huyện Tiên Lãng và thành phố Hải Phòng-được phơi bày rõ mồn một trên báo chí, từ báo nhà nước cho đến báo hải ngoại, các diễn đàn độc lập, trang blog cá nhân… Qua những lời ăn tiếng nói, hành vi ứng xử, việc làm… những con người đang ngồi trên ghế lãnh đạo một huyện, một thành phố đã bộc lộ đầy đủ năng lực, trình độ, tư duy, cái tâm cái tầm…của họ. Tiếc rằng những chân dung đó quá tệ hại-cả đức lẫn tài khiến người dân phải lắc đầu ngao ngán.

Thật ra, đây chẳng phải lần đầu tiên người dân VN được nghe/ thấy những lời nói, hành vi bộc lộ cái quan trí quá thấp của các quan chức từ cấp huyện, xã cho đến cấp cao nhất, cỡ Thủ tướng, Chủ tịch nước hay Tổng Bí thư đảng. Trong lúc Tổng Bí thư như ông Nông Đức Mạnh, trong mọi cuộc họp lúc nào cũng chỉ thấy cầm giấy viết sẵn nhai đi nhai lại những luận điệu cũ rích, xơ cứng, thì Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại bộc lộ tư duy lòng vòng không ai hiểu ông định nói gì như trong câu sau:

“Nói biển Đông không phải chỉ là biển Đông. Nói biển Đông không phải chỉ quan hệ ta với Trung Quốc. Nói biển Đông không phải toàn bộ vấn đề biển Đông, nó chỉ có một cái chỗ quần đảo Hoàng Sa với lại quần đảo Trường Sa …”

Chủ tịch nước như ông Nguyễn Minh Triết thì có cung cách ăn nói bình dân đến mức dân dã, với không ít phát ngôn nằm trong danh sách những câu nói ấn tượng nhất trong năm! Nhiều người dân vẫn nhớ những lời vàng ngọc của ông Chủ tịch, ví dụ như trong chuyến thăm Cuba năm 2009:

“Có người ví von, Việt Nam Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía đông, một anh ở phía tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ”

Khi phát biểu trước kiều bào 2009, nói về vị thế ngoại giao của Việt Nam thì:

“Tôi hoan nghênh ông Obama. Ông ấy tuyên bố đóng cửa nhà tù Guantanamo mà. Nhưng mà tôi nói rằng “Ông Obama ơi, vấn đề này là khó lắm đó. Tôi chúc ông phải nỗ lực để thực hiện cho bằng được cái này. Tôi nói mà tôi nhìn Obama mà tôi thấy ông ấy cũng chăm chú lắm đó, lắng nghe lắm. Như thế là mình vừa động viên ông Obama nhưng mình vừa phân hóa cái nội bộ của ổng…Như vậy đó tôi muốn nói với các đồng chí và quí vị rằng cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng cũng đúng mức, đàng hoàng. “

Nói về đoàn kết toàn dân tộc:

“Chúng ta là con một nhà, là con Lạc cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra. Trên thế giới này ít có nơi nào có cái đó lắm á.”

(Theo wikipedia tiếng Việt).

Bàn về quy luật tham nhũng:

“… Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có những cái kinh nghiệm trong quản lý, và ở nước người ta đó thì muốn tiêu cực, muốn tham nhũng cũng khó, vì hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở Việt nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham, cái người thủ quĩ cứ giữ tiền khư khư,ở quĩ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút, mượn không thấy ai đòi hết,thì em mượn thêm. Chứ không phải người Việt nam tham những nhứt thế giới, không phải vậy!”

( Phát biểu tại “Đại hội Kiều bào ở nước ngoài lần thứ nhất” do Việt Nam tổ chức tại Hà Nội từ 21.11.2009 đến 23.11.2009)

Còn Thủ tướng như ông Nguyễn Tấn Dũng lại có những phát ngôn gây choáng kiểu khác. Khi mới nhậm chức ông Dũng hùng hồn tuyên bố:

“Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay.”

Hết một nhiệm kỳ 5 năm của ông Nguyễn Tấn Dũng, tham nhũng phát triển tràn lan trong xã hội, với mức độ ngày càng nặng nề hơn, trơn trẽn hơn, không ai thấy ông Dũng từ chức, trái lại ông còn ngồi tiếp thêm một nhiệm kỳ nữa!

Ông Dũng khoe về công tác nhân sự:

“Tôi nhớ đồng chí Phạm Văn Đồng – có lẽ làm thủ tướng lâu nhất – có lần nói chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào. Hơn ba năm nay tôi làm thủ tướng cũng chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào, chắc là cũng phải học theo đồng chí Phạm Văn Đồng.”

Nhưng đáng nói nhất có lẽ là câu ông Thủ tướng trả lời về trách nhiệm với vụ Vinashin trong buổi thảo luận đánh giá 10 năm đổi mới, phát triển DNNN tháng 12.2011 ở Hà Nội:

“Xảy ra chuyện như Vinashin, cuối cùng Thủ tướng đứng ra nhận trách nhiệm. Tôi nhận trách nhiệm chính trị với tư cách người đứng đầu Chính phủ, chứ tôi cũng không ra quyết định nào sai”!

Còn đây là ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng:

“Hôm nay thấy sai một chút chỗ này xử lý, “cách chức đi, kỷ luật đi”, ngày mai thấy sai chỗ kia, “cách chức đi, kỷ luật đi”, lấy ai mà làm việc các đồng chí ?” (Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12.06.2010)

“Thử hỏi trong số chúng ta ngồi đây, bản thân tôi nhiều khi cũng tự hỏi mình làm trăm việc, làm mười việc thế nào cũng sai một hai việc cũng nên, có khi sai lớn, có khi sai nhỏ, nhưng mà các đồng chí cứ dẹp đi thì bầu không kịp.”(Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12.06.2010)

Rất lạc quan:

“Hiện GDP của Việt Nam là 106 tỉ USD, năm 2020 sẽ gần 300 tỉ, năm 2030 sẽ là 700 tỉ và năm 2040 sẽ là 1.000 tỉ. Thu nhập bình quân đầu người hiện nay 1.200, đến năm 2040 sẽ đạt 20.000 USD”. (Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12.06.2010)

Lạc quan ngay cả khi vụ phá sản Vinashin đã là hiện thực:

“Tôi thì vẫn chưa lo”. Ngày 8.6.2010, Ông nói câu này khi được các phóng viên hỏi về những lo ngại về hiệu quả kinh doanh tại Vinashin trong kỳ họp Quốc hội.

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Các ông trong “tứ trụ triều đình” đã thế, những nhân vật khác cũng không hề kém cạnh trong việc “hồn nhiên vô tư” khoe cái dốt, sự ấu trĩ của họ.

Bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan rất tự tin khi đã là năm 2011 mà bà còn dám phát biểu:

“Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, … khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản”.

Cũng một kiểu tự tin trên đời không biết có ai đó là ông Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Thứ trưởng Bộ Công An:

“…hãy nhìn ra nước ngoài để thấy rõ hơn những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong lĩnh vực Nhân quyền.”

Còn đây là các vị Thứ trưởng, Bộ trưởng với những phát biểu cực kỳ vô cảm, vô trách nhiệm kiểu như ông Bộ trưởng Giáo dục & đào tạo Phạm Vũ Luận khi thản nhiên trả lời báo chí về việc hàng ngàn thí sinh bị điểm 0 trong kỳ thi tuyển sinh đại học năm 2011:

“Điểm lịch sử thấp là vấn đề của thời đại… Việc có hàng ngàn điểm 0 trong kỳ thi tuyển sinh đại học- cao đẳng vừa qua là vấn đề bình thường”

Bà Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, khi dịch tay chân miệng đã bùng phát ở hàng chục tỉnh thành, VN đã ghi nhận được “78.000 ca bệnh, trong đó 137 trường hợp tử vong.” Bà Bộ trưởng vẫn bình tĩnh cho rằng:

“Tỷ lệ tử vong ở Việt Nam khá thấp, khoảng 3%, trong khi các nước xung quanh 10-30%”, và: “Một số nước trong khu vực số ca mắc tay chân miệng, số tử vong cũng tăng vọt nhưng đã có nước nào công bố dịch đâu mà chúng ta công bố”(VNExpress ngày 26.10.2011)

Các đại biểu quốc hội VN do có truyền hình trực tiếp các buổi hội thảo, tranh luận của Quốc hội nên người dân càng có dịp được nghe những câu phát ngôn để đời của họ.

Quốc Hội khóa XII, có ông Nghị Trần Tiến Cảnh, đại biểu tỉnh Hà Nam, rất hùng hồn khi bênh vực dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam:

“Các nước có chỉ số IQ cao đều xây đường sắt cao tốc. Ra nước ngoài tôi đi thử rồi. Tốc độ nhanh, an toàn, trẻ em đi học, bà mẹ đi làm… Việt Nam không phải nước nghèo, với quyết tâm chính trị, tôi đề nghị phải xây.”

Ðại biểu tỉnh Ðắk Nông Lương Phan Cừ thì ví von:

“Miền Trung có những bãi biển xinh đẹp, như những nàng tiên đang ngủ. Có đường sắt cao tốc, giao thông thuận tiện, các nàng tiên sẽ được đánh thức.”

Quốc hội khóa XIII cũng đã kịp có một số đại biểu có những phát ngôn “nổi tiếng” không kém gì khóa trước.

Ðại biểu Nguyễn Bá Thuyền, viện trưởng VKSND tỉnh Lâm Ðồng khiến cả nước giật mình trong bài phát biểu tại phiên thảo luận ngày 5 tháng 8, 201:

“Làm sao để nhiệm kỳ này cố gắng lấy lại quần đảo Hoàng Sa…” Hoặc“quần đảo Trường Sa bây giờ do Trung Quốc chiếm cho nên chúng ta cũng phải kiên quyết chỗ này…”

Ðại biểu Ðỗ Văn Ðương (TP.HCM) bàn về… lạm phát:

“Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn, nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục. Trong nước tôi đi chợ rau muống ở đô thị có thể 5000 đồng/mớ, đi xuống vùng nông thôn chỉ 2000, xuống nữa có khi rẻ hơn… Rất nhiều hàng hóa của mình được giảm giá, đồng tiền của mình về Việt Nam được tự do, có giá trị. Cần xem lại đánh giá chỉ tiêu lạm phát này xem có đúng không, theo tôi không phải là cao nhất.”

Ông Nghị Nguyễn Minh Hồng, bác sĩ kiêm nhà văn, đại biểu tỉnh Nghệ An đề xuất phải có Luật Nhà Văn. Hùng hồn đến mức:

“Nếu phải lựa chọn giữa Luật Biểu Tình và Luật Nhà Văn, tôi vẫn chọn Luật Nhà Văn.”

Ðến khi bị báo chí chất vấn, dư luận phản bác, thì ông Hồng lại phát biểu:“Luật Nhà Văn không phải là sáng kiến của tôi” (mà của các nhà văn trong hội nghị toàn quốc của Hội Nhà Văn, theo lời ông). “Vì thế, tôi cũng không biết vì sao cần có Luật Nhà Văn. Tôi chỉ thực hiện lời hứa, còn cụ thể vì sao cần có luật này thì tôi chưa nghĩ ra.”

Đình đám hơn cả, là ông Nghị Hoàng Hữu Phước (TP.HCM) với bài phát biểu về Luật Biểu Tình.

Ông Phước lập luận:

“Biểu tình là để chống lại chính phủ….Biểu tình gây ra nạn tắc đường “xâm hại quyền tự do đi lại của người dân…”, “Biểu tình là ô danh… Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể chi tiền đài thọ cho một sự ô danh”.

Và ông Phước thẳng thừng đòi bỏ hai luật này ra khỏi chương trình nghị sự suốt nhiệm kỳ Quốc Hội khóa XIII. May mà ông Phước chỉ mới là… ông nghị, nếu quyền to hơn nữa, cỡ thủ tướng, thì nhân dân còn khốn khổ khốn nạn đến chừng nào!

Trên trang blog cá nhân, ông nghị này tự xưng là Lăng Tần Hoàng Hữu Phước.Với các bài viết nói về mình khi tự ứng cử, về Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Ðịnh, “Tôi và Tổng Thống Sadam Hussein,” hay luận bàn về thế giới thời kỳ hậu Gaddafi “Hoàng Hữu Phước luận về The Post-Gaddafi Era.”…Càng đọc càng thấy nhân vật này vừa cực kỳ phản động, vừa mắc chứng hoang tưởng, đầu óc không bình thường!

Trong bối cảnh chung về quan trí VN như vậy thì việc các quan chức thành phố Hải Phòng hay huyện Tiên Lãng có những phát ngôn trịch thượng, ngồi xổm lên luật pháp, coi nhân dân như trẻ nít, nói lấy được, cãi chầy cãi cối…chả có gì ngạc nhiên. Hàng loạt chân dung những nhân vật bất tài, nói theo ông Chủ tịch Trương Tấn Sang là “cả một bầy sâu” lộ ra qua vụ Tiên Lãng. Từ ông Lê Văn Hiền- Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, Lê Thanh Liêm – Chủ tịch UBND xã Vinh Quang, Ngô Ngọc Khánh, Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng, Đỗ Trung Thoại-Phó Chủ tịch UBND TP Hải Phòng, Đại tá Đỗ Hữu Ca-Giám đốc Công an TP Hải Phòng, Nguyễn Văn Thành, Bí thư thành ủy Hải Phòng…

Trong đó giải nhất về tội đổ thừa cho nhân dân sẽ được trao cho ông Đỗ Trung Thoại, Phó Chủ tịch UBND TP Hải Phòng với câu: “Các đồng chí ở huyện báo cáo do người dân bất bình nên vào phá ngôi nhà này chứ không phải chính quyền” . Đồng giải nhất cãi chày cãi cối, nhằm chạy tội cho hành động cưỡng chế trái pháp luật trái đạo lý của chính quyền huyện Tiên Lãng sẽ được trao cho hai ông Ngô Ngọc Khánh, CVP UBND huyện Tiên Lãng và ông đại tá Đỗ Hữu Ca, Giám đốc CA TP. Hải Phòng. Ông Ngô Ngọc Khánh với câu nói phủi tay “hoa lợi trong đầm không có cái gì”, “trước khi thu hồi có thông báo cho chủ đầm thu hoạch hoa lợi”.

Tuy nhiên, theo chị Phạm Thị Hiền (vợ ông Đoàn Văn Quý), toàn bộ 5.000 con cá vược loại 1-1,5 kg/con, 7.000 con cá trắm, trọng lượng 2-3 kg/con, 3.000 con cua giống trong đầm đã bị đánh bắt hết. Tính tổng trị giá cá nuôi đã lên tới hơn 1,5 tỉ đồng, chưa kể cua, tôm tự nhiên và hàng ngàn buồng chuối.( Vietnamnet ngày 3.2.2012).

Ông Đỗ Hữu Ca thì cố tình hạ thấp hậu quả việc lực lượng cưỡng chế đánh sập căn nhà xây 2 tầng của gia đình ông Vươn khi cho rằng:

“Ngôi nhà của ông Vươn chỉ là cái chòi trông cá, lại nằm trong khu vực bị cưỡng chế, nên việc phá hay không phá không thành vấn đề.” ( Vietnamnet ngày 3.2.2012).

Còn giải nhất về sự dốt nát không thể tin nổi sẽ thuộc về ông Nguyễn Văn Thành, Bí thư thành ủy Hải Phòng khi phát biểu trước 500 cán bộ hưu trí trung, cao cấp tại Câu lạc bộ Bạch Đằng, Hải Phòng ngày 17.2:

“…lập tức các bài báo liên tục xuất hiện, phải thế nọ phải thế kia, phải phải liên tục, phải cho đến ngày hôm qua là 1300, 1400 bài báo và hơn 5 triệu lượt người vào mạng Gugồ chấm Tiên Lãng“!

Và còn nhiều, rất nhiều nữa…kể ra không xiết.

Người dân chỉ cỏn biết ngửa mặt lên trời than: sao họ dốt nát đến thế. Dốt nát một cách hết sức tự tin. Bởi vì nghĩ rằng nhân dân còn dốt hơn, nhân dân chả là cái đinh gì nên mới dám tự tin khoe dốt đến vậy. Mà họ đều là những người có bằng cấp đầy mình hết cả. Ngay ông Nguyễn Văn Thành nói trên là tiến sĩ kinh tế, cử nhân luật, cử nhân Anh. Hay bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cũng là Giáo sư, Tiến sĩ. Ở VN muốn làm quan tệ nhất cũng phải có một hai cái bằng vắt vai, phổ biến là Cử nhân luật, Cử nhân chính trị, bằng B Anh văn…Nhìn vào lý lịch các quan chức VN thì người nào cũng bằng cấp kêu xủng xoẻng như chuông. Tiến sĩ, Giáo sư cả rổ. Nếu so sánh với nhiều nước khác có lẽ các quan VN có bằng cấp cao hơn nhiều. Nhưng vẫn dốt!

Không chỉ dốt, phần lớn quan chức VN còn tham lam, vô cảm, vô trách nhiệm, coi khinh luật pháp, coi khinh nhân dân như rác.

Đã giành độc quyền lãnh đạo đất nước này từ 37 năm nay mà họ vẫn không thể xây dựng được đội ngũ quan chức cán bộ của mình từ trên xuống dưới cho tử tế, lựa những con người có học có tài thật sự là bởi cái cơ chế độc tài, không có sự bầu chọn công khai minh bạch, toàn chạy chọt dàn xếp chia ghế với nhau mà ra, quan chức thì không chịu học hành cho đàng hoàng, cứ bỏ tiền ra mua bằng cho khỏe, thời buổi bây giờ có tiền mua gì mà chả được. Hậu quả là cứ mỗi khi họ mở miệng thì người dân chỉ có phát khóc, còn những gì họ làm thì chỉ toàn phá hoại! Không có gì lạ khi đất nước này ngày càng lùi nhanh lùi mạnh về mọi mặt so với các nước láng giềng trong khu vực chứ chưa nói gì đến thế giới!

VIỆT NAM ĐÀN ÁP INTERNET VÀ QUYỀN TỰ DO PHÁT BIỂU


http://caulacbonhabaotudo.wordpress.com/2012/02/27/vi%E1%BB%87t-nam-dan-ap-internet-va-quy%E1%BB%81n-t%E1%BB%B1-do-phat-bi%E1%BB%83u/#more-9708

Doug BernardVOA – Trang tiếng Anh của đài VOA vừa đăng một bài blog của tác giả Doug Bernard nói về hiện tượng viết blog ở Việt Nam. Sau đây là phần chuyển ngữ của bài blog này.

Điếu Cày biết rõ những rủi ro và phần thưởng khi viết blog ở Việt Nam. Về mặt rủi ro, ông đã bị ra tù vào khám nhiều lần trong 5 năm qua, và nay lại bị bắt giữ một lần nữa.

Còn về phần thưởng? Ông vẫn là nhân vật nổi tiếng nhất trên mạng ở trong nước.

Điều Cày là bút hiệu của ông Nguyễn văn Hải, người bắt đầu viết blog vào năm 2007, đúng vào lúc Internet bắt đầu phổ biến nhanh khắp nước.

Bất bình về các chính sách của Trung Quốc ở Tây Tạng và quần đảo Trường Sa, ông bắt đầu dùng blog của mình – trang blog này không còn xem được nữa – để tổ chức phản đối cuộc rước đuốc Olympic đến Bắc Kinh.

Blogger Điều Cày bắt đầu một cách âm thầm, nhưng chẳng bao lâu đã được nhiều người chú ý. Những người dân Việt Nam khác bất đồng về các chính sách của Trung Quốc, cũng bắt đầu phản đối cuộc rước đuốc. Còn những người khác thì bắt đầu lên tiếng trên mạng, có hứng để bắt đầu về sự kiện phân biệt đối xử tôn giáo ở Việt Nam, các vấn đề sở hữu ruộng đất, hay vấn đề tham nhũng tràn lan.

Chỉ trong vài tháng, những người bạn blog khác như Anh Ba SG tên thật là Phan Thanh Hải, và cựu đảng viên Cộng sản Tạ Phong Tần đã cùng với Điếu Cày lập Câu lạc bộ Ký giả Tự do. Số người xem blog hàng tuần của họ tăng vọt.

 

Cựu đảng viên Cộng sản Tạ Phong Tần

Đó chính là lúc chính quyền có biện pháp. Cuối tháng 4 năm 2009, Điếu Cày bị bắt về tội gian lận thuế, một tội mà nhiều người cho là bịa đặt. Hai blogger kia cũng bị bắt về những tội khác nhau. Điếu Cày sau đó đã được tha và lại bắt đầu viết blog, và liên tục bị công an sách nhiễu. Tháng 10 năm 2010, ông lại bị công an bắt giữ, và sau đó không ai biết tung tích ông ở đây.

Về mặt công khai, thì ông bị quy tội vi phạm điều số 88 là Tuyên truyền chống phá nhà nước. Về mặt không công khai, nhiều người gọi đó một cách đơn giản là “số phận của người viết blog ở Việt Nam.”

“Vi phạm các quyền Tự do Dân chủ”

Điếu Cày không phải là người duy nhất đã gặp rắc rối với chính quyền Việt Nam. Chỉ trong vài tháng qua, có tới 9 nhà báo và 33 blogger bị bỏ tù trong chiến dịch đàn áp quy mô nhất từ trước tới nay, để trấn áp quyền tự do phát biểu trên mạng.

Dân biểu Frank Wolf, đại diện cho bang Virginia, nói:

“Thật là tệ hại, vô cùng tệ hại! Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam đã thất bại, đại sứ quán Mỹ không còn là một ốc đảo tự do nữa.”

Dân biểu Wolf lên án điều mà ông cho là thái độ thiếu quả quyết của chính phủ Tổng Thống Obama trong việc bênh vực nhân quyền và các quyền tự do.

Theo dân biểu Wolf, chính phủ Obama không mạnh mẽ lên tiếng bênh vực nhân quyền và các quyền tự do nên “một số quốc gia tin rằng chính phủ của ông không mấy quan tâm về các vấn đề đó, và cảm thấy họ có thể muốn làm gì thì làm”.

Một số người tin rằng có một lý do khác đã khiến chính phủ Việt Nam tăng cường chiến dịch đàn áp. Theo họ, động lực thúc đẩy Việt Nam tăng đàn áp không phải là vì có cơ hội làm việc đó, mà vì sợ hãi.

Ông Phil Robertson thuộc Tổ chức Human Rights Watch nhận định:

“Hà Nội cảm thấy bị đe dọa vì các công dân Việt Nam gia tăng sử dụng mạng internet. Vì càng có nhiều thông tin tiếng Việt trên internet hơn, thì khả năng kiểm soát những gì người dân đọc và thấy, rõ ràng sẽ giảm sút.”

Bất kể lý do là gì, không ai nghi ngờ rằng con số người Việt Nam sử dụng internet đang bùng nổ. Hồi năm 2000, chưa tới 1% dân số truy cập được internet. 10 năm sau, con số ấy đã tăng vọt lên tới 27%, và có phần chắc sẽ tăng cao hơn nữa ngay tại thời điểm này.

Giới trẻ Việt Nam kéo nhau đông đảo vào các quán cà phê internet, và đua nhau mua các máy điện thoại thông minh mới nhất. Hơn 111 triệu điện thoại cầm tay đã được đăng ký tại một đất nước có dân số chỉ tới 86 triệu người.

Số lượng đông đảo người truy cập thông tin trên internet đã khiến cho con số những người theo dõi các tờ báo và chương trình phát thanh bị nhà nước kiểm soát sút giảm, và điều đó khiến Hà Nội lo lắng.

Ông Robertson nói những gì xảy ra trong thế giới Ả rập đã gây rất nhiều quan tâm cho chính quyền Việt Nam. Họ lo ngại rằng nếu không chấn chỉnh lại vấn đề, tìm cách kiểm soát những gì được loan tải, và không kiểm soát một số blogger nổi bật, cũng như những người chia sẻ thông tin, thì tình hình theo cách nào đó có thể vuột ra khỏi tầm kiểm soát.

Đó là nguyên do sâu xa đưa đến chiến dịch đàn áp ngày càng mạnh của nhà nước Việt Nam nhắm vào một số nhân vật nổi bật đã phổ biến các ý kiến của họ mà chúng ta đã được chứng kiến, và chiến dịch sách nhiễu các nhà hoạt động tích cực.

Nhà nước Việt Nam không những chỉ ngăn chận các trang blog và trang web của họ, mà còn có những hành động sách nhiễu khác như cho cảnh sát đi ngang nhà, mời họ ra quán cà phê để gọi là “nói chuyện”, xông vào nhà họ rồi tịch thu các máy tính, cắt đường dây nối kết mạng của họ, bằng cách chấm dứt dịch vụ điện thoại của họ.

Nhưng dù là hành động vì lo sợ hay không, giới thẩm quyền Việt Nam rõ ràng đã giáng một đòn mạnh xuống các bloggers và các nhà hoạt động mạng nổi tiếng nhất. Ngoài những người bị bắt giữ, vô số những người khác bị theo dõi, buộc phải ngưng truy cập các trang mạng, hoặc bị tịch thu máy tính.

Nhà nước Việt Nam đã dùng một loạt luật lệ để cáo buộc các blogger vi phạm các luật này. Đạo luật phổ biến nhất là Điều 88 của Bộ Luật Hình sự Việt Nam, nhưng ngoài điều 88 còn nhiều điều khoản khác, kể cả Điều 79 Bộ luật Hình sự, ghép tội âm mưu lật đổ chính quyền, hoặc điều khoản 258, mà trớ trêu thay lại mang tên là “Lạm dụng các quyền tự do dân chủ để xâm hại quyền lợi quốc gia.”

Bất kể là bị tố cáo về tội gì, hình phạt rất nặng: đó là bản án tù giam từ 5 năm tới 8 năm.

“Chơi một trò chơi vừa dễ vừa khó.”

Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, 32 tuổi, là một bà mẹ ở thành phố biển miền trung là Nha Trang. Bà lo ngại về một dự án khai mỏ bauxit ở gần đó, và đối tác Trung Quốc trong dự án này là Chinalco. Do đó vào năm 2009 bà đã bắt đầu viết blog về dự án này, chia sẻ tin tức và những lời đồn đại mà bà được nghe, sự chống đối dự án, và những gì mà những người khác nói về các dự án tương tự.

 

Blogger Mẹ Nấm và con sau ngày ra tù

Bà Quỳnh biết rõ các mối nguy hiểm của việc viết blog ở Việt Nam, vì thế đã lấy bút hiệu là Mẹ Nấm. Mọi người đã ký tên vào một thư khiếu nại trên mạng và bà đã in những dòng chữ phản đối trên áo thung; cho đến đêm 2 tháng 9 năm 2009 khi 15 công an viên tông cửa vào nhà và bắt bà đi.

Trong một email bà Quỳnh nói với đài VOA rằng lý do bà bị tù là ‘Lạm dụng quyền dân chủ, xâm hại quyền lợi quốc gia.”

Sau 10 ngày bị giam giữ và không bị truy tố, bà Quỳnh được thả nhưng bị cảnh cáo chớ nên tiếp tục viết blog. Bất chấp lời cảnh cáo, bà vẫn tiếp tục viết – đăng đàn những bất bình với chính phủ và các chính sách ruộng đất của nhà nước. Kể từ lúc đó, bà đã bị công an đóng chốt bên ngoài nhà, chủ nhà và sở làm của bà đã bị làm áp lực đuổi nhà và cho bà nghĩ việc, bạn bè của bà bị sách nhiễu và bà lại bị tù thêm một thời gian.

Mẹ Nấm nói bà cũng nhận thấy một sự gia tăng mức độ sách nhiễu nhắm vào bà và các bạn blog. Bà viết: “Ngoài Điều Cày và Anh Ba SG, nhiều blogger công giáo vẫn còn bị ở tù.”

Theo bà, họ đang cảnh cáo những người khác phải cẩn thận khi dùng blog để nói lên ý kiến về chính sách của đảng Cộng sản. Là một blogger người Việt Nam, dường như đó là một trò chơi vừa khó vừa dễ. Nếu chỉ viết về đời sống bình thường hàng ngày thì không sao. Tuy nhiên, bạn có thể bị bắt bất cứ lúc nào nếu đụng vào các lãnh vực nhậy cảm.

Bà nói bà vẫn tiếp tục viết bởi vì ít nhất nó đem lại cảm giác mình được tự do trong tâm tưởng. Và điều quan trọng nhất là mình sẽ cảm thấy không phải là con người nếu không được quyền tự do phát biểu ý kiến.

Bà Quỳnh hiện đang được tự do, nhưng thừa nhận rằng vào lúc cuộc trấn át đang diễn ra, bà có thể là người kế tiếp sẽ bị bỏ tù. Được hỏi tại sao Mẹ Nấm tiếp tục viết, bà chỉ nói là “Nếu mình không nói thì ai sẽ nói?”

Chiến đấu mà phần thua là chắc?

Ông Phil Robertson thuộc tổ chức Human Rights Watch nói rõ ràng là những người hoạt động thừa nhận rằng họ đang ở thế cùng và có thể bị các án tù dài hạn nếu họ cố gắng quá sức. Nhưng ông cho biết khi nói chuyện với họ, họ khẳng định rõ rằng họ không làm điều gì sái quấy, và nói đó là quyền của họ.

Thực vậy, họ có lý. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về Dân quyền và quyền chính trị, trong đó điều 19 bảo đảm quyền được tự do phát biểu. Vì thế mà khi nói rằng, tôi không làm điều gì sái quấy, họ không lùi bước và chính phủ buộc phải tiếp tục tấn công các nhà hoạt động, theo đuổi và sách nhiễu họ, và cuối cùng tiếp tục bỏ tù họ.

Khi mới lên nhậm chức, Ngoại trưởng Hillary Clinton gọi quyền tự do phát biểu trên mạng là một quyền cơ bản của con người, và cam kết chính quyền của Tổng thống Obama sẽ làm mọi thứ để bãi bỏ “bức màn sắt kỹ thuật số” đang bao trùm lên nhiều quốc gia trên khắp thế giới.

Nhưng giới chỉ trích nói kể từ khi đó, đã không có mấy biện pháp được tiến hành để hỗ trợ, trong khi tình hình ở các nước như Việt Nam chỉ ngày càng tệ hại hơn.

Dân biểu Frank Wolf than phiền rằng thời trước, mọi người đều theo cùng một con đường và đó là cách ủng hộ nhân quyền và quyền tự do trên khắp thế giới cho dù ở đâu. Nhưng bây giờ tình hình ngược hẳn lại.

Với tất cả những vấn đề về chính sách đối ngoại đang có nguy cơ ảnh hưởng đến cuộc bầu cử tổng thống năm nay, quyền tự do phát biểu trên mạng và việc ngược đãi các blogger Việt Nam có phần chắc không được xếp hạng cao. Nhưng nói thế không có nghĩa là không có hy vọng.

Giáo sư trường đại học Columbia Anne Nelson vừa đi Việt Nam đã ghi nhận các cảm tưởng như sau:

“Chúng ta không thể đánh giá thấp sự đau khổ, chưa kể sự khó chịu mà các vụ trấn át do công an mạng ở Việt Nam gây ra. Nhưng đồng thời, dường như họ cũng đang chiến đấu trong một cuộc chiến mà phần thua là chắc. Cử tọa truyền thông Việt Nam đang chuyển lên mạng một cách nhanh chóng, một phần vì họ liên tục học hỏi được các kỹ thuật mới để qua mặt nhà cầm quyền, và một phần bởi vì các cơ quan tin tức theo truyền thống của đảng Cộng sản đã không nắm giữ được độc giả và cơ sở quảng cáo.”

Cũng như tại nước láng giềng Trung Quốc, Việt Nam đang tìm cách làm cả hai thứ: Mở rộng truy cấp mạng và trang bị tương lai cho đất nước trong khi hạn chế những gì mà công dân mình có thể làm và nói trên mạng. Đó là một sự quân bình khó đạt được, và một kỹ thuật liên tục thay đổi

Trong khi chờ đợi, thì ở đâu đó tại Việt Nam, blogger Điếu Cày đang ngồi trong một phòng giam, chờ đợi số phận của mình.

NÔNG DÂN MẤT ĐẤT XIN CỨU ĐÓI


http://caulacbonhabaotudo.wordpress.com/2012/02/29/nong-dan-m%E1%BA%A5t-d%E1%BA%A5t-xin-c%E1%BB%A9u-doi/#more-9738

 BBC – Hơn 100 nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp đã kéo đến trụ sở Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để khiếu kiện hôm thứ Ba ngày 28/2..

Các nông dân đến từ phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội này đã đến tụ tập trước cổng trung ương Mặt trận tại số 46 Tràng Thi Quận Hoàn Kiếm từ lúc 10 giờ sáng để nộp hai đơn: một đơn xin cứu đói và một đơn yêu cầu giải quyết quyền lợi của các nông dân bị mất đất.

Sau khi được Mặt trận Tổ quốc tiếp nhận đơn, đến 3 giờ chiều, đoàn nông dân này đã rời đi đến Đài Tiếng nói Việt Nam ở số 58 Quán Sứ để tiếp tục ‘biểu tình ngồi’.

‘Mất hết nguồn sống’

Trao đổi với BBC qua điện thoại, một nông dân 40 tuổi ở xã Dương Nội tham gia vào đoàn khiếu kiện cho biết các cụ lớn tuổi đi khiếu kiện vì không muốn cho con cháu sau này phải khổ sở như các cụ.

Người nông dân này cũng kể cho BBC về cuộc sống của người dân Dương Nội kể từ khi bị mất đất với điều kiện giấu tên vì sợ rắc rối với chính quyền địa phương.

“Chúng tôi từ có ruộng đất trở thành trắng tay vì bị cướp hết tư liệu sản xuất,” anh nói, “Đối với nông dân chúng tôi mất đất là mất hết nguồn sống. Chúng tôi còn biết làm gì cho qua ngày?”

Ông cho biết bản thân ông trước giờ ‘chỉ biết làm ruộng’ nên bây giờ hai vợ chồng ông mỗi buổi sáng phải ra chợ lao động xem ‘người ta có thuê gì thì làm’ để kiếm tiền nuôi bốn đứa con ăn học. Bên cạnh đó ông còn thuê ruộng của làng bên để cày cấy thêm.

“Ví dụ như bây giờ tôi muốn đi làm thợ hồ thì không có ai thuê một người nhỡ nhàng như tôi vừa không đủ sức khỏe vừa chưa từng làm phụ hồ bao giờ,” ông nói.

Ông cho biết những người nông dân mất đất ở Dương Nội đều đã đứng tuổi nên khó mà chuyển đổi công việc dù chính quyền phường có mở những khóa đào tạo chuyển đổi việc làm cho người dân.

“Vả lại đó chỉ là những khóa ngắn hạn nên cũng không có tác dụng gì nhiều,” ông nói.

“Hoàn cảnh của gia đình tôi cũng không đến mức phải đứt bữa, nhưng chúng tôi phải đi vay đi mượn rất nhiều nơi,” ông than thở và cho biết bản thân đã gửi đơn xin cứu đói rất nhiều nơi nhưng không được giải quyết.

’200.000 đồng/ mét vuông’

Ông kể năm năm trước, chính quyền đã cưỡng chế hơn 300 mét vuông đất của ông và bồi thường gần 70 triệu đồng.

“Tính ra họ bồi thường hơn 200.000 đồng một mét vuông, chỉ đủ để mua bảy bát phở theo giá hiện giờ ở Hà Nội,” ông nói.

Theo người nông dân này thì đất của nông dân bị chính quyền thu hồi để triển khai hàng chục dự án, trong đó chủ yếu là các dự án bất động sản.

“Nhưng hiện nay chỉ có một nhúm đất nhỏ là triển khai dự án còn phần lớn vẫn bỏ hoang cỏ mọc cao gần đầu người,” ông bức xúc.

Ông cho biết kể từ khi bị thu hồi đất từ năm 2008, người dân Dương Nội đã liên tục về Hà Nội để khiếu kiện. Có tháng ‘ngày nào cũng đi’.

“Bà con tự bảo ban nhau đi khiếu kiện. Chúng tôi tự viết đơn. Không thuê luật sư,” ông nói.

“Cái khó khăn là nông dân chúng tôi không có trình độ, học vấn thấp nên khiếu kiện không có kết quả,” ông nói thêm. “Chúng tôi còn không biết đi đâu để khiếu kiện.”

“Chúng tôi đã từng đến văn phòng tiếp dân của Trung ương Đảng tại Quận Hà Đông nhưng đến nay không có kết quả gì,” ông nói.

Trả lời câu hỏi tại sao lại đến khiếu kiện ở Mặt trận tổ quốc, nông dân này cho biết ông mong cơ quan này sẽ tác động cơ quan chức năng để việc của họ sớm được giải quyết.

‘Không giải quyết gì’

 Đối với nhiều nông dân Việt Nam, ruộng đất là nguồn sống duy nhất của họ

Bà Lê Hiền Đức, người phụ nữ chống tham nhũng nổi tiếng năm nay 82 tuổi, cũng đã đến tận nơi để ủng hộ tinh thần cho dân khiếu kiện.

“Nông dân khổ lắm. Họ không biết đường đi nên cứ đi khắp nơi gửi đơn lung tung,” bà Đức nói với BBC.

“Toàn cụ ông cụ bà 70 tóc bạc, chống gậy, đói khát, rét mướt từ Hà Đông ra đây từ sáng đến giờ,” bà kể lại tình hình và cho biết các nông dân khiếu kiện đã không ăn uống gì từ sáng đến quá trưa.

“Trông họ mà không thể nào cầm được nước mắt,” bà nói.

“Họ (Mặt trận Tổ quốc) nhận đơn bảo về đi còn chuyển,” bà Đức nói về kết quả khiếu kiện của nông dân, “Chuyển lên chỗ nọ chỗ kia chuyển đi đâu tôi không biết nhưng không giải quyết gì cho dân.”

Bà kể với BBC phía Mặt trận Tổ quốc có tiếp người phụ nữ trưởng nhóm khiếu kiện và đưa lại một phiếu biên nhận có ghi ‘Đề nghị thủ tướng chính phủ ra văn bản giải quyết dứt điểm vụ việc cho công dân tiếp tục xin trợ cấp cứu đói’.

“Đời nào thủ tướng giải quyết đâu,” bà bức xúc, “(Người nhận đơn) còn không đọc nữa thì làm sao mà giải quyết.”

Bà Đức cho biết người dân Dương Nội có đến chính quyền địa phương – những người mà bà cho rằng ‘đã ăn đất của người ta rồi thì giải quyết sao được?’

“Người thì đói; đất thì bỏ hoang,” bà bức xúc.

Về tình hình giám sát an ninh với đoàn người khiếu kiện, bà Đức cho biết: “Người dân tay không lại già nua yếu đuối mà họ cầm gậy quăng đi quăng lại như là dọa dân.”

Bên cạnh đoàn của nông dân Dương Nội, tại trụ sở Mặt trận tổ quốc trong ngày 28/2 còn có một đoàn nông dân đến từ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên nhưng đã về sau buổi sáng.

Trước đó còn có đoàn nông dân Đắc Nông chủ yếu là người dân tộc ra Hà Nội.

Bà Đức cho biết nhóm này “không chịu nổi cái rét” của Hà Nội nên một số người ốm phải đi bệnh viện.

QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG DƯỚI CÁI NHÌN CỦA MỘT LUẬT GIA


http://caulacbonhabaotudo.wordpress.com/2012/02/24/quy%E1%BA%BFt-d%E1%BB%8Bnh-c%E1%BB%A7a-th%E1%BB%A7-t%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%C6%B0%E1%BB%9Bi-cai-nhin-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%99t-lu%E1%BA%ADt-gia/#more-9671

 

Mặc Lâm, RFA – Sau quyết định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chính quyền Hải Phòng tiếp tục gây cho dự luận rất nhiều câu hỏi về cách giải quyết sự việc mà Thủ tướng chính phủ đã quyết định.

Mặc Lâm phỏng vấn luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên phó chủ tịch MTTQVN thành phố Hồ Chí Minh để biết thêm quan điểm của ông về các diễn tiến vừa qua.

Trung ương phải vào cuộc

Mặc Lâm : Xin cảm ơn Luật gia Lê Hiếu Đằng đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn  ngày hôm nay. Thưa ông, dưới cặp mắt một luật gia ông nhìn nhận thế nào về quyết đinh vừa rồi của Thủ Tướng đối với trường hợp của ông Đoàn Văn Vươn?

Luật gia Lê Hiếu Đằng : Tôi cho rằng quyết định của Thủ Tướng là phải thừa nhận một thực tế đã diễn ra ở Hải Phòng. Điều này không thể nói ngược lại được, vì vậy buộc lòng Thủ Tướng phải thừa nhận điều đó. Nhưng có một điều mà người dân rất ngạc nhiên là Thủ Tướng vẫn tiếp tục cho rằng ông Vươn là “phạm tội giết người và chống lại người thi hành công vụ”. Đây là điều hết sức bức xúc, bởi vì theo “logic” của vấn đề là nếu một khi Thủ Tướng đã kết luận những việc làm sai trái của Tiên Lãng, Hải Phòng thì hành động của ông Vươn là hành động tự vệ chính đáng chống lại những việc làm phi pháp của chính quyền, do đó mà không thể kết tội ông Vươn là “giết người và chống người thi hành công vụ” được.

Hiện nay kiến nghị trên mạng Nguyễn Xuân Diện hiện tại đã trên 1.000 người ký tên rồi. Vấn đề ở chỗ là bản thân Hải Phòng, từ xã, huyện cho đến thành phố những người đã gây ra việc này, như tôi đã nói nhiều lần rằng đây chính là những người có tội, đó là “thiếu tinh thần trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng”. Như vậy theo tôi, không nên để cho Hải Phòng xử lý vụ này, mà trung ương phải vào cuộc. Trung ương đây kể cả ông Tổng bí thư đảng tức là ông Nguyễn Phú Trọng.

Bởi vì qua Nghị Quyết 4/BCHTW lần thứ 11 thì ông Trọng nói cũng rất quyết liệt, và người dân nghe nói thì người ta cũng mừng, “sẽ làm trong sạch, sẽ chống tiêu cực, chống tham nhũng”, mà người đứng đầu của địa phương phải chịu trách nhiệm cao nhứt về những vấn đề tiêu cực của địa phương.

Nếu ông Tổng Bí Thư đã phát biểu như vậy thì theo tôi, ông Tổng Bí Thư và các cơ quan trung ương phải vào cuộc, không nên để cho Hải Phòng. Bởi vì những người như ông Thành, ông Thoại, ông Ca bây giờ không đủ tư cách để thụ lý vụ này nữa. Nhất là, mới đây nhất, trong buổi nói chuyện  với các cụ cách mạng lão thành ở Hải Phòng thì ông Thành – một người cùng họp với Thủ Tướng – nhưng sau khi ra về thì lại không chấp hành những kết luận của Thủ Tướng, mà nói ngược lại, do đó tạo nên sự bất bình đối với các đồng chí cách mạng lão thành ở Hải Phòng, và họ đã còn kiến nghị chính thức lên trung ương rồi.

Vì vậy tôi nghĩ rằng đối với ông Thành thì rõ ràng ông ta là người đứng đầu cao nhứt ở Hải Phòng nhưng không đủ tư cách để xử lý vụ việc này nữa, mà ông ta có thể nói như là một “đồng phạm”, hay là nói theo ngôn từ của luật pháp là “bao che tội phạm”. Ông ta không đủ tư cách để thụ lý vụ này mà các cơ quan trung ương phải thụ lý. Hơn nữa, đối với trách nhiệm của người đứng đầu cao nhứt, như ông Tổng Bí Thư đã phát biểu, thì theo tôi là nên cách chức ông Thành, thay thế người khác.

Tôi được biết ông Thành không phải chỉ sai phạm trong vụ Tiên Lãng mà chung quanh vụ đất đai ở Hải Phòng thì ông Thành từ trước tới nay đã có nhiều sai phạm rồi. Điều này chứng tỏ rằng ông Thành không đáng ở cương vị cao nhất của một thành phố quan trọng như thành phố Hải Phòng, một thành phố trực thuộc trung ương.

Luật pháp ở đâu?

Mặc Lâm : Vâng, thưa ông, với tư cách là nguyên phó chủ tịch Măt Trận Tổ Quốc Việt Nam TP.HCM, vấn đề vận hành trong nội bộ đảng ông nắm rất vững. Có dư luận cho rằng ông Thành sở dĩ dám công khai tuyên bố những câu chống lại Thủ Tướng, không phải “trên bảo dưới không nghe” như người ta nói, nhưng hình như có một thế lực nào đó chống lưng để ông ta làm việc này. Nếu thực sụ việc này xảy ra thì di hại của nó như thế nào, ông có thể cho biết được không?

Luật gia Lê Hiếu Đằng : Tôi cho rằng sở dĩ ông Thành dám nói những việc đó thì có hai khả năng. Một, như chúng ta biết ở Việt Nam có một tình trạng như chúng ta nói là “trên bảo dưới không nghe”, hoặc là coi thường những ý kiến cấp trên, xem cấp trên nói như vậy đó nhưng mà thật ra thì giữa lời nói và việc làm của cấp trên không đi đôi với nhau, thành ra chúng ta gọi là “lờn thuốc”, tức là cấp dưới người ta coi thường cấp trên và người ta không thực hiện những ý kiến, những kết luận của cấp trên. Đó là một khả năng.

Nhưng cũng có khả năng thứ hai, đó là phía sau ông Thành là một thế lực nào đó bao che ông ta, thì ông ta mới dám đi ngược lại kết luận của Thủ Tướng. Tôi nghĩ  khả năng này có nhiều. Nói thiệt, một bí thư thành ủy mà muốn cho mình được tiếp tục cái chức đó và lên cao hơn nữa thì nếu không có thế lực chống đỡ thì không dám hành động như vậy.

Do đó, khi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng kết luận thì dân người ta mừng, nhưng người ta vẫn còn ở trong tâm trạng chờ xem giữa lời nói và việc làm như thế nào, coi thử chỉ đạo của Thủ Tướng có quyết liệt hay không. Bởi vì người ta nghĩ rằng với tư cách một đại biểu quốc hội ở Hải Phòng thì lẽ ra Thủ Tướng phải vào cuộc sớm hơn, chứ không phải mất hơn một tháng sau; với tư cách đại biểu thì anh thấy dân như vậy, anh thấy sự việc xảy ra như vậy, thì anh phải cùng với đoàn đại biểu Hải Phòng  vào để xem cái sự việc như thế nào.

Nhưng sau khi kết luận rồi thì Thủ Tướng phải có những biện pháp mạnh mẽ buộc Hải Phòng phải thực hiện. Nhưng chúng ta thấy từ ngày có kết luận đến giờ thì cũng chẳng có ý kiến gì chỉ đạo thêm, mà ngược lại cứ để cho Hải Phòng hết đưa ông Thoại ra làm trưởng ban chỉ đạo giải quyết vụ Tiên Lãng, khi thay thế thì ông Thoại, ông Ca vẫn còn trong cái ban giải quyết đó. Rồi bây giờ đến ông Thành nói, thì tôi nghĩ là quần chúng đang trông chờ thái độ cương quyết hơn nữa, có trách nhiệm hơn nữa của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ông Thành với tư cách là bí thư thành ủy, một ủy viên trung ương đảng, thì người ta cũng chờ thái độ kiên quyết hơn nữa của TBT Nguyễn Phú Trọng để thực hiện một cách cụ thể nghị quyết của BCH/TW lần thứ IV vừa rồi, như ông Trọng đã long trọng tuyên bố trước nhân dân về vấn đề xây dựng đảng, về vấn đề chống tiêu cực, chống tham nhũng.

Mặc Lâm : Thưa ông, xin được một câu hỏi cuối cùng, theo kinh nghiệm của người dân thì trước đây chính Thủ Tướng Phan Văn Khải đã than một câu rằng bản thân ông là thủ tướng mà cũng không có quyền giải nhiệm một ông bộ trưởng. Trong trường hợp Tiên Lãng liệu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có gặp phải lực cản cũng lớn như vậy hay không, mặc dù Thủ Tướng cũng rất muốn làm những điều mà người dân đang trông mong?

Luật gia Lê Hiếu Đằng: Tôi cho rằng khi được bầu làm Thủ tướng thì có nghĩa là dân đã giao cho anh trọng trách đó rồi, còn vấn đề nội bộ trong đảng thì đó là vấn đề khác. Với trách nhiệm thủ tướng thì anh phải kiên quyết giải quyết chứ không thể nói vì thế lực này vì thế lực kia ngăn cản như ThủTướng Phan Văn Khải nói thì còn gì chế độ này? Như vậy thì thủ tướng không có quyền lực gì hết thì người dân khi bị nạn còn biết trông chờ vào ai đây?

Tôi cho rằng nói như vậy chỉ là một cách nói thôi, cách nói mà tôi cho là thiếu trách nhiệm, và nó không biểu tỏ thái độ kiên quyết của một vị đứng đầu chính quyền trong khi giải quyết những vấn đề của dân. Tôi nghĩ luật pháp đã quy định rồi thì không thể nào mình nói vì lý do này không thực hiện được. Quan hệ giữa Thủ tướng với tư cách ủy viên bộ chính trị với Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, thì đó là trong nội bộ, còn vấn đề ra quốc hội, chính phủ, thì phải làm việc theo luật pháp.

Đảng không thể đứng trên luật pháp, và đảng cũng không thể đứng ngoài luật pháp được. Đó là tinh thần mà ngay bản thân các vị lãnh đạo cũng nhắc nhở cán bộ đảng viên điều đó. Vì vậy các vị đứng đầu cao nhứt của đảng và nhà nước cũng phải làm việc theo tinh thần như vậy.

Mặc Lâm : Một lần nữa xin cảm ơn Luật gia Lê Hiếu Đằng đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn đặc biệt này.

GIẢI PHÁP TỐT NHẤT ĐỂ CHỈNH ĐẢNG


http://caulacbonhabaotudo.wordpress.com/2012/02/29/gi%E1%BA%A3i-phap-t%E1%BB%91t-nh%E1%BA%A5t-d%E1%BB%83-ch%E1%BB%89nh-d%E1%BA%A3ng/#more-9740

 

Blog Huỳnh Ngọc Chênh

Thưa Đảng Cộng Sản Việt Nam!

Tôi không phải là người của quý vị nhưng quý vị đang cai trị đất nước, đang nắm vận mệnh của toàn dân, trong đó có tôi, nên dù quý vị không yêu cầu, không cần đến tôi nhưng tôi thấy cần thiết phải có đôi lời góp ý với quý vị về công tác xây dựng và chỉnh đốn đảng đang rất là cấp bách hiện nay.

Nói gì thì nói, đất nước ta cũng đang ở trong tình trạng của chủ nghĩa đức trị như thời phong kiến lạc hậu. Nếu có khác chăng là chế độ phong kiến do một cá nhân là ông vua đứng ra cai trị còn bây giờ là môt tập thể tức là Đảng đứng ra cai trị. Nói là đảng nhưng thực chất chỉ là một nhóm nhỏ người đại diện. Tối cao thì có bộ chính trị. Ở các địa phương thì có thường vụ các cấp ủy. Giống như ông vua phong kiến, các nhóm nhỏ nầy đứng trên pháp luật để cai trị đất nước. Do vậy sự hưng vong của đất nước hoàn toàn may rủi lệ thuộc vào cái đức của kẻ trị vì.

Vì lẻ đó ngày xưa các ông vua phải cố gắng tự rèn, tự mài dũa, tự tu tỉnh để trở thành một vị minh quân. Bây giờ cũng vậy, Đảng cũng thường xuyên ra sức xây dựng và chỉnh đốn Đảng để làm cho Đảng thành một “bậc minh quân”. Như ông Trọng nói Đảng luôn coi trọng công tác xây dựng nên chỉ kể từ Đại hội VI đến nay đã có tới 14 nghị quyết về xây dựng Đảng.

Tuy vậy, cũng theo ông Trọng chưa bao giờ nhiệm vụ xây dựng đảng lại cấp bách như hiện nay. Ông nêu ra ba vấn đề cấp bách và nhấn mạnh cấp bách nhất vẫn là: Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Ông nói: Đứng trên tổng thể mà xét, hiện nay cái làm cho quần chúng oán thán nhất, gây mất lòng tin nhất, làm xói mòn bản chất Đảng đó chính là sự suy thoái cả về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; cái này thật là nghiêm trọng.

Xem xét lại lịch sử, ông vua nào không muốn mình là bậc minh quân để thần dân được nhờ, để đất nước được thịnh trị, để bản thân được lưu danh hậu thế. Nhưng các biện pháp tự xây dựng, tự chỉnh đốn đều mang tính chủ quan duy ý chí nên hiệu quả bấp bênh. Có được mấy ông vua là minh quân trong một triều đại?  Từ thời nhà Lý, qua nhà Trần, đến thời nhà Lê, nhà Nguyễn, mỗi thời chỉ được vài vị minh quân đầu triều còn sau đó là chấm hết. Chấm hết cho chế độ mà còn chấm hết cho vận mệnh của nước nhà.

Bây giờ các vị cũng đang tự xây dựng và chỉnh đốn với mục đích: “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng” tức là nâng cao đạo đức và năng lực cai trị của mình.

Giải pháp đưa ra là tự phê và phê. Giải pháp ấy không có gì mới mẻ vì là sự lặp lại những gì từ thời mồ ma Mao Trạch Đông đã dùng và tỏ ra không mấy hiệu quả. Chưa nói đó là công cụ bị Mao lợi dụng để thanh trừng nội bộ mỗi khi y mắc sai lầm nhằm tiếp tục củng cố ngôi vị cá nhân độc tôn của y. Các vị cũng liên tục sử dụng giải pháp nầy từ xa xưa đến nay trong mỗi lần xây dựng và chỉnh đốn Đảng nhưng không lấy gì tỏ ra có hiệu quả bởi lẻ đến hôm nay lại báo động sự suy thoái đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ đảng viên đến mức nghiêm trọng, đến mức là chuyện sống còn của Đảng.

Vận mệnh đất nước tùy thuộc vào đạo đức của các vị, nhưng kết quả của việc xây dựng và chỉnh đốn đạo đức và lối sống của các vị lại không lấy gì đảm bảo qua các giải pháp đưa ra.

Các đảng phái chính trị uy tín có tuổi đời trên dưới trăm năm ở  Âu, Mỹ như Đảng Lao Động, Đảng Bảo Thủ (Anh), Đảng Xã Hội (Pháp), Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ (Mỹ)… không hề thấy họ mở ra các cuộc chỉnh đốn rầm rộ tốn kém, đảng viên của họ không hề phải phê bình đấu tố lẫn nhau đến tang thương nhưng họ có bao giờ báo động về tình trạng suy thoái đạo đức và lối sống của cán bộ đảng viên của họ.

Ấy là do giải pháp gì?

Rất đơn giản: Các đảng đó tự đặt mình xuống dưới pháp luật. Pháp luật tự nó điều chỉnh đạo đức và lối sống của mỗi đảng viên như tất cả các công dân khác.

Vậy tại sao các vị không thử thực hiện giải pháp tốt đẹp và đơn giản nầy nhỉ?

Hãy đặt các tổ chức của Đảng CSVN vào trong khuôn khổ pháp luật và xây dựng một nhà nước pháp quyền thực sự, đó là giải pháp xây dựng và chỉnh đảng tốt nhất.

Rất mong thay.

Làm gì để lấy lại lòng tin nhân dân?


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/02/120228_party_reform_comments.shtml

Cập nhật: 08:51 GMT – thứ ba, 28 tháng 2, 2012

Đảng Cộng sản thừa nhận có yếu kém nhưng không chấp nhận đa đảng

Một số người quan tâm chính trị đang sống ở Hà Nội tỏ ra không tin vào kết quả chỉnh đốn Đảng dù một hội nghị lớn đang diễn ra.

Toàn bộ các ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có mặt tại Hà Nội từ 27/02 để dự hội nghị ba ngày về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Đảng Cộng sản nói vấn đề xây dựng Đảng đang trở nên “cấp bách”.

Nhưng không ít trí thức cho rằng bất kỳ thay đổi nào đưa ra từ hội nghị cũng sẽ không đủ để lấy lại lòng tin của người dân vào Đảng.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (tự giải tán năm 2009 để phản đối Quyết định 97 của chính phủ):

Tôi không phải là người trong Đảng nên chả có hy vọng gì về cuộc họp này. Nhưng với tư cách người Việt Nam, sống dưới sự cai trị của cái đảng này, nếu cái đảng này sửa đổi được chính nó, người dân Việt Nam cũng đỡ.

Nếu họ chấp nhận đa nguyên đa đảng, không giữ độc quyền nữa, điều đó sẽ rất tốt. Tất nhiên tôi không nghĩ đợt này họ sẽ đi đến được như vậy. Nhưng nếu họ đang trong quá trình tiến đến việc đó, nếu họ hiểu rằng chỉ có thể tồn tại khi vứt bỏ độc quyền, bằng không lịch sử và nhân dân sẽ vứt họ vào sọt rác. Chỉ cần họ hiểu được điều ấy, đã là tốt rồi.

Thực tiễn đất nước thúc ép sự thay đổi, phải cải cách chính trị. Không thể cải cách kinh tế mà không đi liền với cải cách chính trị.

“Nếu họ hiểu rằng chỉ có thể tồn tại khi vứt bỏ độc quyền, bằng không lịch sử và nhân dân sẽ vứt họ vào sọt rác. Chỉ cần họ hiểu được điều ấy, đã là tốt rồi.”

Tiến sĩ Nguyễn Quang A

Người ta mất niềm tin từ lâu rồi. Đảng Cộng sản không còn là cái đảng một thời động viên hô hào người dân đoàn kết giành độc lập. Bây giờ họ là đảng cầm quyền. Họ chẳng liên quan gì ý thức hệ Marxist, mà chỉ làm sao bảo vệ quyền lợi của họ mà thôi. Đảng kiểm soát mọi thứ từ kinh tế đến quân đội, công an. Nhóm lợi ích lớn nhất đất nước chính là cái đảng này.

Nếu bảo rằng góp ý gì, tôi nói phải tôn trọng những điều mà chính nhà nước này đã tuyên bố là sẽ tôn trọng. Những quyền cơ bản của con người như tự do báo chí, bầu cử sòng phằng, tạo điều kiện cho các lực lượng khác cạnh tranh với đảng cộng sản.

Đấy là con đường tốt cho chính Đảng Cộng sản. Nhưng để họ chấp nhận toàn bộ những điều như thế, là không tưởng trong bối cảnh hiện nay. Tuy vậy, phải làm sao để họ chấp nhận càng nhiều càng tốt. Nếu chưa chấp nhận hết, thì họ cũng phải hình dung trong đầu là có lộ trình để tiến đến những điều đó.

Chuyện chỉnh đốn tận gốc rễ là khó vì không có sức ép cạnh tranh buộc họ phải thường xuyên chỉnh đốn. Chứ thỉnh thoảng điều chỉnh một chút, cũng có tác dụng nào đấy. Nhưng về dài hơi, khó đem lại hiệu quả.

Luật sư Trần Lâm, nguyên Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao:

Chúng tôi đã theo dõi nhiều những đại hội như thế rồi, chỉnh đốn đảng rồi cải tiến cái nọ cái kia. Những kiểu hội nghị như thế vẫn làm, rất long trọng, nhưng rồi không nói cụ thể làm thế nào, chỉ nói những câu công thức. Chuyện cũ chép lại.

Nếu các ông cầm quyền hiện nay phê phán, tôi mạnh dạn xin nói tôi là người làm những việc này mấy chục năm rồi. Nhưng đọc xong, tôi cũng chả hiểu làm như thế nào.

“Lòng tin của nhân dân lung lay đã từ lâu chứ có phải hôm nay mới lung lay. Mất lòng tin vào Đảng, mất lòng tin đảng viên. Chính đảng viên cũng không tin lãnh đạo.”

Luật sư Trần Lâm

Lòng tin của nhân dân lung lay đã từ lâu chứ có phải hôm nay mới lung lay. Mất lòng tin vào Đảng, mất lòng tin đảng viên. Chính đảng viên cũng không tin lãnh đạo. Người ta nói chuyện đó từ lâu. Bây giờ có nói cũng chỉ là nói lại thôi. Bây giờ người ta còn nói đảng viên ‘nhạt Đảng’ cơ mà.

Cái đảng hiện nay là cái đảng cầm quyền chứ làm gì có đảng cộng sản. Đảng ấy theo chủ nghĩa nào, đường lối nào, không thấy nói.

Những kiểu hội nghị thế này, chúng tôi theo dõi nhiều rồi. Tôi thấy nhàm chán.

Chỉnh đốn là phải chảy máu, đau lòng khốn khổ. Thế có chỉnh đốn được không? Rõ ràng mình đang ốm đau. Nhưng từ chỗ ốm đau chuyển sang mạnh khỏe là một quá trình khó khăn.

Cái hội nghị này, tôi chưa đọc kỹ nội dung của nó mà đã nói, như thế tôi sai phạm, nói không căn cứ. Nhưng từ kinh nghiệm mấy chục năm nay, tôi cho đấy chỉ là sáo rỗng.

Một bộ phận Đảng ‘suy thoái nghiêm trọng’


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/02/120228_nguyen_phutrong_speech.shtml

Cập nhật: 04:41 GMT – thứ ba, 28 tháng 2, 2012

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thừa nhận nhiều người dân giảm sút lòng tin với Đảng

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng nói cần “đẩy lùi suy thoái” về chính trị và đạo đức trong đảng viên, nhưng nhấn mạnh “phần lớn cán bộ, đảng viên rất tốt”.

Người đứng đầu Đảng có Bấmbài phát biểu dài, đề cập nhiều chủ đề được xem là “cấp bách” tại hội nghị lớn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Hà Nội hôm 27/02.

Hứa hẹn cải thiện dân chủ trong Đảng, ông Trọng nói sẽ có quy chế cho Ban Chấp hành Trung ương góp ý kiến về từng thành viên Bộ Chính trị.

Đảng lãnh đạo

Mở đầu, ông Trọng nói phải tái khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

“Đây đó có người cho rằng phát triển kinh tế thị trường, nhiều thành phần, mở cửa, hội nhập quốc tế, liên doanh, liên kết với nước ngoài thì cần gì phải có sự lãnh đạo của Đảng,” ông Trọng chỉ trích.

Ông nói với hội nghị rằng điều đáng lo ngại nhất và cũng là nguy cơ lớn nhất đối với một đảng cầm quyền là “có bộ phận suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”.

“Có người công khai bày tỏ ý kiến trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, làm trái nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, thậm chí có người “sám hối”, “trở cờ”; tình trạng tham nhũng, quan liêu, xa dân, tổ chức không chặt chẽ, nhiều nguyên tắc của Đảng bị vi phạm.”

Người đứng đầu Đảng cũng dành phần đáng kể trong diễn văn để lên án “diễn biến hòa bình”, cụm từ mà người cộng sản thường dùng để chỉ “âm mưu xóa bỏ chế độ của các thế lực thù địch”.

“Thời gian gần đây, các làn sóng chống đối ta về mặt tư tưởng chính trị lại rộ lên, có lúc dồn dập.”

” Họ đang cố tìm ra và dựng lên những “ngọn cờ” để chống ta. Một số người cơ hội chính trị, bất mãn cũng lợi dụng các diễn đàn, các mối quan hệ để truyền bá những quan điểm sai trái của mình, liên tiếp viết đơn thư, tài liệu vu cáo, đả kích chế độ ta, tác động vào nhân dân, nhất là thanh niên, sinh viên, văn nghệ sĩ, trí thức…”

Vị Tổng Bí thư nhấn mạnh Đảng đặt ra ba vấn đề lớn phải giải quyết, trong đó số một là “ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”.

Ông phân tích sự suy thoái này là “cái làm cho quần chúng oán thán nhất, gây mất lòng tin nhất”.

Đa số ‘rất tốt’

Ông Nguyễn Phú Trọng tiết lộ khi đề án xây dựng Đảng được đưa ra để xin ý kiến trong nội bộ, đã có nhiều bình phẩm khác nhau.

Có người cho rằng “còn né tránh, chưa thấy hết mức nghiêm trọng của những yếu kém, khuyết điểm, tình hình nghiêm trọng hơn nhiều”

Nhưng người khác lại nói “nêu phần khuyết điểm quá nặng nề, đen tối, tình hình Đảng không đến mức như vậy”.

Ông Trọng ví von: “Nói thế nào cho khoa học, đúng mức, không nên tự bôi nhọ mình, để kẻ xấu lợi dụng.”

“Nó đang muốn phá vỡ niềm tin, bôi xấu mình thì mình lại tự làm mất uy tín của mình, như thế thì có khác nào tiếp thêm đạn cho địch bắn.”

Chung cuộc, ông cho biết những lãnh đạo cao nhất đồng ý rằng “đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng”.

“Phải khẳng định phần lớn cán bộ, đảng viên ta rất tốt; nếu không tốt thì làm gì có thành tựu như bây giờ.”

Mặc dù khẳng định mạnh mẽ về uy tín của Đảng, vị Tổng Bí thư thừa nhận nhân dân bức xúc vì tiêu cực “ở một bộ phận đảng viên có chức, có quyền, cả trong một số cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, đương chức, hoặc thôi chức”.

Phân tích vì sao Đảng chưa đẩy lùi được các yếu kém, ông Trọng đề cập các lý do như “thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Ông có vẻ phê phán việc một số cán bộ khi về hưu lại nói trái ý Đảng.

“Khi đương chức thì không nói hoặc nói kiểu này, khi nghỉ chức vụ hoặc về hưu lại nói kiểu khác. Khi còn phụ trách thì không được góp ý kiến nhưng khi nghỉ hưu, hoặc chuyển công tác thì có rất nhiều đơn, thư tố cáo.”

Ông kết luận các cuộc vận động chỉnh đốn chưa thành công là do “nguyên nhân chủ quan, do lỗi của chúng ta”.

‘Góp ý kiến về Bộ Chính trị’

Khi đề ra giải pháp chỉnh đốn Đảng, ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh việc tự giác, tự phê bình.

“Từng cán bộ, đảng viên, trước hết là từng đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư tự giác, gương mẫu tự phê bình, kiểm điểm, nhìn lại mình, tự điều chỉnh mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình.”

Đây là giải pháp không mới, và ngay trong bài phát biểu, ông Trọng cũng thừa nhận thời gian qua “nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện rất kém, thiếu thẳng thắn, trung thực; xuê xoa, nể nang”.

Dẫu vậy, ông cho biết có một số điểm mới trong các nhóm giải pháp sắp tới.

Gây chú ý là việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo trong cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể.

Ông nói: “Định kỳ hằng năm, cấp ủy, tổ chức đảng có hình thức thích hợp thông báo kết quả kiểm điểm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân biết, đóng góp ý kiến.”

Ngoài ra, ông kiến nghị Quốc hội “sớm có hướng dẫn để thực hiện quy định việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn”.

“Những người hai năm liền tín nhiệm thấp, không hoàn thành nhiệm vụ cần được xem xét, cho thôi giữ chức vụ, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác,” ông Trọng cho biết.

Ông hứa sẽ có dân chủ hơn khi “triển khai thực hiện việc chất vấn trong Đảng, nhất là chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương và cấp ủy các cấp”.

Đặc biệt, sẽ có quy chế “để hằng năm Ban Chấp hành Trung ương góp ý kiến, thể hiện sự tín nhiệm đối với tập thể và từng thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư”.

Cùng ngày, các nhân vật chủ chốt trong Đảng như ông Lê Hồng Anh, Tô Huy Rứa, Ngô Văn Dụ, Đinh Thế Huynh tiếp tục có các bài nói chuyện tại hội nghị sẽ kéo dài đến ngày 29/2.

Lê Khả Phiêu – Muốn Đảng mạnh phải loại bỏ chủ nghĩa cá nhân

Submitted by TongBienTap on Sat, 12/31/2011 – 02:21

Nguồn : báo QĐND

29.12.2011

QĐND – Trước khi họp Trung ương lần này, tôi được Bộ Chính trị cho phép tham gia ý kiến đóng góp và tôi cũng đã gặp trực tiếp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trao đổi khá kỹ về Đề án một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay.

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành (BCH) Trung ương đang thảo luận, cho ý kiến xung quanh vấn đề quan trọng đó. Qua theo dõi, tôi thấy tinh thần đấu tranh của các đồng chí ủy viên Trung ương là hết sức đáng ghi nhận. Nhiều đồng chí đã thẳng thắn nói lên những vấn đề thực tế của những yếu kém trong Đảng, vai trò, trách nhiệm của BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng Đảng. Đây là một điều đáng hoan nghênh và rất cần thiết trong tình hình hiện nay. Vì sao lại như vậy? Bởi công tác xây dựng Đảng hiện đang là vấn đề được dư luận đặc biệt quan tâm. Với một tinh thần thẳng thắn như vậy, chúng ta tin tưởng BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ có những giải pháp thực hiện quyết liệt, hiệu quả. Bởi đây là vấn đề cấp bách.

Vậy vì sao Bộ Chính trị, Ban Bí thư lại đặt vấn đề cấp bách đối với công tác xây dựng Đảng? Tôi cho rằng, trước hết là do tình hình phát triển mạnh mẽ của thế giới và trong nước đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới. Nhưng quan trọng hơn chính là bản thân Đảng ta đang tồn tại không ít hạn chế, yếu kém. Vì thế chúng ta phải tiến hành sửa chữa, khắc phục để Đảng ngày càng mạnh, làm tròn được vai trò cầm quyền và thực hiện tốt trọng trách mà nhân dân giao phó, nếu không làm được thì rất nguy hại cho Đảng, cho chế độ ta. Từ suy nghĩ đó, tôi cho rằng, hội nghị lần này Trung ương đặt vấn đề như thế là rất đúng. Nó đã đúng rồi thì chúng ta phải có biện pháp sao cho đúng để giải quyết có hiệu quả.

Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu Đảng phải tự đổi mới, tự tu dưỡng, tự rèn luyện để nâng cao trình độ, năng lực đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Nếu Đảng không làm được những vấn đề nêu trên, thì không những Đảng tự mình đánh mất lòng tin của nhân dân, mà còn không thể đảm đương được vai trò lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội. Và nếu để điều đó xảy ra, Đảng có tội với nhân dân, với dân tộc. Cấp bách chính là ở đó.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn nữa là vì sao chúng ta chưa làm được? Chúng ta đặt vấn đề rất trúng, rất đúng nhưng chúng ta làm chưa triệt để, thậm chí bản thân từng cán bộ, đảng viên, từng nhân tố trong bộ máy của Đảng chưa hoàn thành được nhiệm vụ của mình.

Bài phát biểu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên khai mạc hội nghị đề cập, gợi mở nhiều vấn đề rất đúng, rất trúng đối với công tác xây dựng Đảng để Trung ương tiến hành thảo luận, cho ý kiến. Đặc biệt, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu lên ba vấn đề trọng tâm; đồng thời đặt ra câu hỏi là: Nhìn lại từ Đại hội VIII đến nay, chúng ta đều thấy rất rõ những mặt làm được và cả những mặt chưa làm được trong công tác xây dựng Đảng, vấn đề là vì sao những yếu kém trong Đảng vẫn chậm được khắc phục?

Trước hết, tôi phải khẳng định rằng: Đảng đã có khắc phục hạn chế, yếu kém bởi nếu không khắc phục thì Đảng không thể tồn tại, không đủ năng lực để lãnh đạo đất nước được như hiện nay. Nhưng việc khắc phục đó chưa theo kịp với tình hình, thậm chí có những suy thoái còn nặng hơn, trầm trọng hơn. Tại Đại hội XI Đảng cũng đã chỉ rõ: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… và chỉ rõ rất nhiều biểu hiện như chạy chức, chạy quyền, chạy huân chương… Những vấn đề nêu trên, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nêu rõ trong bài phát biểu của mình tại phiên khai mạc hội nghị.

Mấy ngày nay dư luận nhân dân đặc biệt quan tâm đến những vấn đề của Đảng đang thảo luận và rất vui mừng khi nghe bài phát biểu khai mạc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, thấy Đảng ta đã nhận ra thiếu sót khuyết điểm. Đó là một tín hiệu mừng cho Đảng. Nó thể hiện rõ lòng tin của các tầng lớp nhân dân vào Trung ương, vào các đồng chí ủy viên Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Chính sự kỳ vọng và niềm tin lớn đó đặt ra yêu cầu rất cao và trách nhiệm rất lớn đối với từng đồng chí ủy viên Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong xác định chủ trương và thể hiện quyết tâm thực hiện.

Sinh thời, Bác Hồ từng dạy: Đảng phải luôn luôn tự chỉnh đốn mình. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở phải luôn tự soi mình. Nhưng vấn đề là có soi không và soi rồi thì thấy mình có vấn đề gì không? Đâu là cái hay, đâu là cái không hay? Do vậy, mọi người phải tự xem lại mình. Thật tiếc là chúng ta chưa đạt được vấn đề đó. Nếu từng người không tự mình soi mình thì không thể giữ được sự trong sạch. Soi mình, chính là tự mình phát hiện ra cái gì nó làm cho mình làm trái với đạo đức cộng sản. Đặc biệt là cán bộ cấp cao, nhất là đội ngũ cán bộ cốt cán đứng đầu bộ máy của Đảng và Nhà nước; những người nắm quyền lực được Đảng, nhân dân giao cho thì lại càng cần phải nêu cao và thường xuyên làm tốt việc này. Đạo đức cộng sản biểu hiện ở chỗ: Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu ở từng cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị -xã hội phải đứng trên cái chung mà xem lại mình. Đối với cái chung, mình làm như thế nào, đối với bản thân, mình giữ sự trong sạch đến đâu? Hai cái đó đã nhuần nhuyễn chưa. Thực tình, tôi thấy là chưa được, hoặc có lúc được, có lúc chưa được, thậm chí có người hư hỏng, kéo dài; kể cả về quan điểm tư tưởng chính trị; kể cả việc giữ đạo đức trong sạch của người cộng sản. Như thế thì cái chất cộng sản không còn và như thế chúng ta cũng làm không đến nơi, đến chốn và nguyên nhân sâu xa nhất chính là chúng ta đã không đấu tranh triệt để với chủ nghĩa cá nhân. Chúng ta chưa chữa trị được căn bệnh này. Chủ nghĩa cá nhân trong Đảng được ví như bệnh ung thư, nó hết sức nguy hiểm.

Còn về biện pháp, từ trước tới nay Đảng ta đã đề ra rất nhiều rồi, rất đúng, rất trúng rồi, nhưng chúng ta làm không đến nơi, đến chốn hoặc là không chịu làm, hoặc nói một đường, làm một nẻo. Tôi nói ví dụ, ai cũng hiểu, nguyên tắc tổ chức của Đảng là không cho phép một người có quyền quyết định bất kỳ việc gì. Nhưng thực tế thì lại có chuyện này. Khi triệu tập hội nghị thì số đông ngồi im, nhưng ra ngoài nói đủ thứ. Bác Hồ từng nói: Trong hội thì im lặng, nhưng ngoài hội thì nhiều mồm. Như thế là rất cá nhân. Thấy cái sai thì lờ đi, cái đúng không bảo vệ. Nếu cứ kéo dài tình trạng này thì Đảng ngày càng hư hỏng và đến một lúc nào đó là mất chế độ.

Vậy bây giờ phải đặt vấn đề giám sát thế nào, chất vấn thế nào? Trung ương họp chất vấn phải cao hơn Quốc hội. Vậy Trung ương đã làm được chưa, tại sao không làm được? Tại sao không để Trung ương chất vấn. Chất vấn từ Tổng bí thư đến các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, lãnh đạo các ban của Đảng. Rồi hằng năm lấy phiếu tín nhiệm từ Tổng bí thư đến các đồng chí ủy viên Trung ương… Làm được thì tốt quá. Nhưng tại sao không dám làm, phải chăng là còn né tránh? Phát huy dân chủ trong Đảng, chất vấn xem công tác cán bộ, một người có thể quyết định được không? Ai cho phép, quy định nào? Lần này Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thử làm xem hiệu quả đến đâu.

Một vấn đề lớn nữa là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị. Đây là vấn đề rất hệ trọng nhưng tôi thật tiếc tại Hội nghị này Trung ương lại chưa có đủ thời gian để đề cập đến. Thực tế hiện nay đối với công tác xây dựng Đảng, nếu không nhận rõ được vấn đề suy thoái về tư tưởng chính trị là gì thì không thể có giải pháp thực hiện hiệu quả. Bác Hồ từng dạy: Kiến thiết đất nước gồm 4 yếu tố: Chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Bốn yếu tố này có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, nhưng chính trị chính là yếu tố quyết định. Vì vậy, nếu suy thoái về tư tưởng chính trị thì sẽ dẫn đến suy thoái cả về kinh tế, xã hội và văn hóa. Như thế là đi chệch hướng, mà ở chúng ta chính là chệch hướng XHCN. Nghĩa là cái “chất” CNXH không được xây dựng cao lên, mà làm tụt đi, mặc dầu kinh tế có thể phát triển. Điều này trên thế giới đã có nhiều bài học và thực tế cũng đã và đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới…

Lần này, tôi được biết, Trung ương chưa có nhiều thời gian để thảo luận kỹ về vấn đề có tính lý luận đó, nhưng sau hội nghị này, Bộ Chính trị cần tiếp tục làm rõ, vì những vấn đề đó có liên quan mật thiết đến công tác xây dựng Đảng…

Chúng ta không sợ khuyết điểm, không sợ các thế lực phản động, thù địch lợi dụng, mà cái đáng sợ hơn là chúng ta có dám nhìn thẳng vào thực tế, nhận rõ khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa hay không. Đó là điều căn bản nhất và đó cũng chính là cách để chúng ta loại bỏ chủ nghĩa cá nhân, củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân vào Đảng…

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay


http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Nghi-quyet-Hoi-nghi-Trung-uong-4-Mot-so-van-de-cap-bach-ve-xay-dung-Dang-hien-nay/20121/125067.vgp

9:08 PM, 17/01/2012

(Chinhphu.vn) – Ngày 16/1/2012, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết:

I. TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN 

1. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Trải qua hơn 80 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, với bản lĩnh của một đảng cách mạng chân chính, dạn dày kinh nghiệm, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng.

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trên cơ sở đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao; phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước được đổi mới; vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững, niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố; đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt. Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng. Thành tựu 25 năm đổi mới là thành quả của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

2. Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Nổi lên một số vấn đề cấp bách sau đây:

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…

Đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng, nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản. Công tác quy hoạch cán bộ mới tập trung thực hiện ở địa phương, chưa thực hiện được ở cấp trung ương, dẫn đến sự hẫng hụt, chắp vá, không đồng bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ. Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước.

Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân.

3. Tình hình trên đây có nguyên nhân khách quan do việc thực hiện đổi mới kinh tế phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, chưa lường hết được những tác động của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế; chưa có sự chuẩn bị thật kỹ về lập trường, tư tưởng và cả cách thức tiếp cận mới cho cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, còn thiếu những cơ chế, chính sách đồng bộ, khoa học để chủ động ngăn ngừa những vi phạm.

Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng, phát triển với quy mô ngày càng lớn, một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý nắm giữ khối lượng tài sản, nguồn vốn lớn của tập thể, của Nhà nước; đó là môi trường để chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, thực dụng phát triển.

Trong khi đó, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng.

Nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan:

Cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ.

Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật thích ứng với quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ; chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thật sự để trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém.

Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống nhiều khi còn hình thức, chưa đủ sức động viên và thường xuyên nâng cao ý chí cách mạng của cán bộ, đảng viên; một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm không được phê phán, xử lý nghiêm minh. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, ráo riết; đấu tranh với những vi phạm còn nể nang, không nghiêm túc. Vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội chưa được phát huy, hiệu quả chưa cao.

4. Để tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra, coi đó là những nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài và phải thực hiện thường xuyên, có hiệu quả, đồng thời tập trung cao độ để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt ba vấn đề cấp bách sau đây:

Một là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng.

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Ba là, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Trong ba vấn đề trên, vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất.

II. MỤC TIÊU, PHƯƠNG CHÂM:

1. Mục tiêu:

Phải tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhằm xây dựng Đảng ta thật sự là đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi các chủ trương, nghị quyết của Đảng.

2. Phương châm:

Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh.

Các giải pháp phải bảo đảm đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, khả thi, kết hợp “chống và xây”, “xây và chống”, nói đi đôi với làm, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất.

Chỉ đạo, tổ chức thực hiện với trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao trong toàn Đảng. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy đảng, cán bộ chủ chốt, nhất là cấp trung ương, người đứng đầu làm trước và phải thật sự gương mẫu để cho các cấp noi theo. Phải làm kiên quyết, kiên trì, xác định rõ lộ trình thực hiện, thời gian hoàn thành, làm từng bước vững chắc, thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Làm tốt nhiệm vụ xây dựng Đảng cũng chính là để thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Phải bình tĩnh, tỉnh táo, không nóng vội, cực đoan; đồng thời không để rơi vào trì trệ, hình thức, không chuyển biến được tình hình; giữ đúng nguyên tắc, không để các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội lợi dụng, kích động, xuyên tạc, đả kích gây rối nội bộ.

III. GIẢI PHÁP:

Cùng với việc tiếp tục thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, các quy định đã có về xây dựng Đảng, cần tập trung thực hiện tốt các nhóm giải pháp sau đây:

1. Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên

Một là, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương tập trung kiểm điểm, đánh giá làm rõ tại sao những hạn chế, khuyết điểm đã chỉ ra nhiều năm nhưng chậm được khắc phục, có mặt còn yếu kém, phức tạp thêm; làm rõ nguyên nhân trở ngại trong việc lãnh đạo thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng Đảng.

Hai là, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương tiến hành kiểm điểm, đánh giá liên hệ bản thân về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao liên quan đến một số vấn đề cấp bách nêu trong Nghị quyết này, đề ra biện pháp khắc phục. Tập trung làm rõ trách nhiệm cá nhân, gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức, lối sống.

Ba là, các đồng chí ủy viên ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các ban của Trung ương Đảng, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy các cấp nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nêu gương bằng hành động thực tế. Trong quá trình kiểm điểm cần liên hệ, gắn với xem xét việc thực hiện các quy chế, quy định; việc giải quyết những vấn đề về tổ chức, cán bộ; về giải quyết những vấn đề bức xúc của ngành, cơ quan hoặc địa phương.

 Trước khi kiểm điểm, cần có hình thức phù hợp lấy ý kiến góp ý, gợi ý kiểm điểm.

 2. Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng

Một là, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý kiểm điểm, liên hệ theo chức trách, nhiệm vụ được giao, tự phê bình và phê bình thẳng thắn, dân chủ, nghiêm túc, chân thành, gắn với thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm, theo cương vị công tác. Làm tốt việc kiểm điểm để có căn cứ xem xét, sàng lọc đội ngũ cán bộ của cả hệ thống chính trị và chuẩn bị quy hoạch cấp ủy, các chức danh chủ chốt các cấp nhiệm kỳ tới.

Hai là, phát huy dân chủ thật sự trong Đảng, thực hiện nghiêm túc Quy chế chất vấn trong Đảng, nhất là chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương và cấp ủy các cấp. Đổi mới cách lấy phiếu tín nhiệm để đánh giá, nhận xét cán bộ theo hướng mở rộng đối tượng tham gia. Những người không đủ năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, có tín nhiệm thấp cần được sắp xếp phù hợp, có cơ chế để kịp thời thay thế không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác.

Ba là, tiếp tục thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ chủ chốt ở cấp tỉnh, cấp huyện không phải là người địa phương. Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản theo quy định của Đảng và Nhà nước. Kê khai tài sản phải trung thực và được công khai ở nơi công tác và nơi cư trú.

Tiếp tục thực hiện thí điểm chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện; gắn với xây dựng quy chế kiểm tra, giám sát, bảo đảm thực sự có hiệu quả, ngăn chặn sự lạm quyền, độc đoán. Sơ kết, rút kinh nghiệm để có chủ trương về việc đại hội đảng bộ từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở trực tiếp bầu bí thư cấp ủy có số dư. Triển khai thực hiện quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016-2020; tích cực tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tham mưu, chuyên gia cấp chiến lược. Thực hiện bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ trì cấp trên nói chung phải qua chức vụ lãnh đạo, quản lý chủ trì ở cấp dưới. Hướng dẫn để sớm thực hiện quy định việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Quy định việc thực hiện lấy phiếu tín nhiệm hằng năm đối với các chức danh lãnh đạo trong cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể. Những người hai năm liền tín nhiệm thấp, không hoàn thành nhiệm vụ cần được xem xét, cho thôi giữ chức vụ, không chờ kết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác.

 Bốn là, thí điểm giao quyền cho bí thư cấp ủy lựa chọn, giới thiệu để bầu cử ủy viên thường vụ cấp ủy; cấp trưởng có trách nhiệm lựa chọn, giới thiệu để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó; thí điểm chế độ tiến cử, chế độ tập sự lãnh đạo quản lý; thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự theo hướng những người được dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải trình bày đề án hoặc chương trình hành động trước khi cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Năm là, chấn chỉnh tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ; thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Sớm tổng kết toàn diện công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm; bổ sung, sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng. Kiện toàn và tăng cường trách nhiệm, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan phòng, chống tham nhũng. Xét xử nghiêm những vụ án tham nhũng, trước hết là những vụ nghiêm trọng, phức tạp, được nhân dân quan tâm.

Bảy là, định kỳ tổ chức để nhân dân góp ý kiến xây dựng Đảng thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội.

 3. Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách

Một là, khẩn trương rà soát, loại bỏ các cơ chế, chính sách đã lạc hậu, xây dựng, ban hành đồng bộ các chính sách để đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ. Trọng tâm là đánh giá cán bộ, xây dựng tiêu chuẩn cán bộ theo chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ làm cơ sở cho việc quy hoạch, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ; quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị. Ban hành quy chế để hằng năm Ban Chấp hành Trung ương góp ý kiến, thể hiện sự tín nhiệm đối với tập thể và từng thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư; ban chấp hành đảng bộ các cấp góp ý kiến, thể hiện sự tín nhiệm đối với tập thể và từng thành viên ban thường vụ cấp ủy cấp mình.

 Thực hiện nghiêm Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các văn bản pháp luật có liên quan đến công tác cán bộ. Ủy ban kiểm tra các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát đối với cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý trong việc chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước về cán bộ, công chức; hàng năm cần có báo cáo kết quả thực hiện của cán bộ thuộc cấp ủy quản lý trong việc chấp hành quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức. Xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ; loại trừ khả năng để cán bộ và người thân của cán bộ lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi.

 Hai là, rà soát cơ chế, chính sách và ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quản lý, kiểm soát chặt chẽ vốn và tài sản nhà nước.

Ba là, tích cực thực hiện cải cách hành chính nhà nước và cải cách hành chính trong Đảng. Rà soát, loại bỏ những cơ chế, chính sách không còn phù hợp, cản trở việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức; sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định của Đảng và Nhà nước theo hướng đề cao hơn trách nhiệm và quyền hạn của người đứng đầu trong mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, vừa phải tôn trọng nguyên tắc tập thể, vừa phải phát huy vai trò cá nhân người đứng đầu; khuyến khích, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng.

 Bốn là, đẩy nhanh việc cải cách, thực hiện sớm chế độ tiền lương, nhà ở, chống bình quân, cào bằng; đồng thời chống đặc quyền, đặc lợi; gắn với tinh giảm biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức.

 Năm là, trong năm 2012 ban hành quy chế giám sát (trực tiếp và gián tiếp) của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và chính quyền các cấp; trong đó có cơ chế giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học; cơ chế để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

4. Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng

Một là, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc làm theo gương Bác một cách thiết thực, hiệu quả.

Hai là, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên gắn với việc kiểm điểm, đánh giá và biện pháp giải quyết vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng của các cấp theo tinh thần Nghị quyết này, tạo niềm tin trong Đảng và nhân dân.

Ba là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Đưa vào nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp trung ương.

Bốn là, chấn chỉnh hoạt động thông tin, tuyên truyền; quản lý có hiệu quả hoạt động báo chí theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước. Chú trọng làm tốt hơn việc nêu gương những người tốt, việc tốt; lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực; đồng thời phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, vô trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, vi phạm những chuẩn mực đạo đức, lối sống… Tập trung chấn chỉnh, quản lý thông tin trên mạng Internet, các mạng xã hội và blog cá nhân.

Năm là, cán bộ chủ chốt và cán bộ dân cử các cấp phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, chủ động nắm bắt tâm tư, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp giải quyết kịp thời. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 

1. Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị, Kế hoạch, phân công việc chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, định rõ lộ trình thực hiện, làm từng bước vững chắc; giữa nhiệm kỳ sơ kết, cuối nhiệm kỳ tổng kết báo cáo Ban Chấp hành Trung ương, Đại hội Đảng; trực tiếp chỉ đạo việc phổ biến, quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết.

2. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị ở các cấp chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị quyết, giải quyết từng vấn đề cấp bách, xác định rõ những việc cần làm ngay, làm quyết liệt có hiệu quả, thời gian hoàn thành và phân công người chịu trách nhiệm cụ thể.

3. Ban Tổ chức Trung ương chủ trì phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng và các cơ quan liên quan khẩn trương rà soát các cơ chế, chính sách về tổ chức, cán bộ, đề xuất sửa đổi, xây dựng mới để thực hiện tốt các giải pháp nêu ra trong Nghị quyết này.

Ban Tổ chức Trung ương chủ trì phối hợp với Ban cán sự đảng Chính phủ, Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan rà soát và kiện toàn tổ chức những cơ quan của Đảng, Nhà nước chưa phù hợp, hoạt động chưa hiệu quả. Đánh giá hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng, từ đó đề xuất việc kiện toàn để nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức này.

4. Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng xây dựng kế hoạch, kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Bí thư nội dung gợi ý cho các cấp ủy viên ở những nơi cần thiết trước khi tiến hành tự phê bình và phê bình; tổ chức kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng về thực hiện Nghị quyết này.

5. Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các cơ quan báo chí tuyên truyền, phổ biến nội dung nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của Trung ương, Bộ Chính trị về vấn đề này và kết quả thực hiện theo tiến độ chặt chẽ, kịp thời, tránh nhận thức sai lệch, hiểu nhầm, ngộ nhận; không để các thế lực thù địch, chống đối lợi dụng kích động, làm mất ổn định chính trị. Các cấp ủy, cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm quản lý, chấn chỉnh các cơ quan báo chí của mình, bảo đảm đúng định hướng thông tin của Đảng và Nhà nước. Tăng cường quản lý và chấn chỉnh các trang mạng và blog có nội dung xấu.

 6. Ban Dân vận Trung ương chủ trì phối hợp với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, trình Bộ Chính trị ban hành.

 7. Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo rà soát, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cần thiết để quản lý, sử dụng, kiểm soát chặt chẽ vốn và tài sản của Nhà nước, không để sơ hở, thất thoát.

*

*      *

Ban Chấp hành Trung ương Đảng tin tưởng, với truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, nhất định chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết này, tạo bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

PHÁT BIỂU CỦA ĐỒNG CHÍ TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG TẠI HỘI NGHỊ CÁN BỘ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG


(Hà Nội, ngày 27 tháng 02 năm 2012)

http://baodientu.chinhphu.vn/Uploaded_VGP/thukybientap/20120227/BaiPhatBieuTBT1.htm

_______________

 

     Thưa các đồng chí,

    Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã bàn và thống nhất ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Đây là một Nghị quyết rất quan trọng, được toàn Đảng, toàn dân đặc biệt quan tâm; quan tâm từ trong quá trình diễn ra Hội nghị đến khi kết thúc Hội nghị. Ngay sau khi ban hành, Nghị quyết đã được tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân đón nhận với một tình cảm hồ hởi, vui mừng, đồng tình, nhất trí cao, cho rằng Nghị quyết đã lựa chọn đúng vấn đề, đánh giá đúng thực trạng và đề ra đúng các giải pháp để tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân. Đã có hàng trăm bài báo, hàng trăm bức thư, hàng nghìn ý kiến tâm huyết gửi về Trung ương bày tỏ tình cảm và sự tâm đắc, phấn khởi, kỳ vọng của mình. Tuy nhiên, dư luận cũng đang chờ đợi và có phần băn khoăn, lo rằng liệu Nghị quyết lần này có được tổ chức thực hiện hiệu quả không hay lại rơi vào tình trạng “không đạt yêu cầu” như nhiều lần trước. Tâm trạng đó là chính đáng và cũng là điều day dứt, trăn trở chung của tất cả chúng ta.

    Ý thức sâu sắc được vấn đề này, ngay tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 4, Ban Chấp hành Trung ương đã yêu cầu phải lãnh đạo, chỉ đạo thật tốt việc tổ chức thực hiện, coi đây là vấn đề mấu chốt, có ý nghĩa quyết định để đưa Nghị quyết vào cuộc sống. Sau một thời gian ngắn tích cực và khẩn trương chuẩn bị, hôm nay, Bộ Chính trị triệu tập Hội nghị cán bộ toàn quốc để phổ biến, quán triệt nội dung của Nghị quyết Trung ương, Chỉ thị và Kế hoạch triển khai của Bộ Chính trị. Sự có mặt đông đủ của tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và sự tham gia của toàn thể cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ban, bộ, ngành Trung ương và các tỉnh, thành trong cả nước đã nói lên tầm quan trọng đặc biệt của Hội nghị này và thể hiện tinh thần nghiêm túc, quyết tâm cao của Đảng ta ngay từ khâu mở đầu trong toàn bộ kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết. Có lẽ đây cũng là Hội nghị lớn nhất về phổ biến một Nghị quyết chuyên đề của Trung ương từ trước đến nay.

    Mục đích của Hội nghị này là thông qua việc giới thiệu, phổ biến các nội dung Nghị quyết, Chỉ thị, Kế hoạch, giúp các đồng chí lãnh đạo chủ chốt các ngành, các cấp nhận thức đầy đủ, sâu sắc mục đích, ý nghĩa, nội dung của Nghị quyết, nắm vững những kiến thức cần thiết, những tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó, tạo sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình để gương mẫu, tự giác thực hiện và chỉ đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết có hiệu quả trên mỗi cương vị công tác tại địa bàn, lĩnh vực thuộc trách nhiệm lãnh đạo của mình. Ban Tổ chức Hội nghị đã phổ biến, báo cáo với các đồng chí chương trình, nội dung, cách thức tiến hành Hội nghị. Tôi chỉ xin nhấn mạnh thêm là, Hội nghị của chúng ta có ý nghĩa cực kỳ quan trọng . Các đồng chí cần nêu cao ý thức trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân và đất nước, tập trung cao độ cho việc học tập, nghiên cứu, thảo luận, để thu được kết quả tốt. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có quyết tâm rất lớn và thống nhất rất cao. Mong toàn thể các đồng chí cũng thống nhất rất cao và quyết tâm rất lớn, ngay trong việc học tập Nghị quyết này.

    Vừa qua, các đồng chí đã được nghe thông báo nhanh kết quả và các nội dung chính của Hội nghị Trung ương 4 qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc tại các hội nghị phổ biến, quán triệt Nghị quyết do cấp ủy tổ chức. Nghị quyết của Trung ương và Chỉ thị của Bộ Chính trị viết rất ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, các đồng chí cần nghiên cứu trực tiếp. Sau đây, để giúp các đồng chí hiểu sâu hơn, tôi xin nói thêm một số vấn đề, chủ yếu là cung cấp thông tin hoặc nói rõ hơn một số nội dung được đề cập trong Nghị quyết của Trung ương và Chỉ thị của Bộ Chính trị.

    Tập trung vào 4 phần lớn: (1) Vì sao lúc này Trung ương phải bàn và ra Nghị quyết về xây dựng Đảng. (2) Mục đích, yêu cầu, quá trình chuẩn bị và phạm vi của Nghị quyết. (3) Những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương và Chỉ thị của Bộ Chính trị. (4) Một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình chỉ đạo tổ chức thực hiện.

    I- VÌ SAO LÚC NÀY TRUNG ƯƠNG PHẢI BÀN VÀ RA NGHỊ QUYẾT VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG

    Từ trước đến nay, Đảng ta luôn luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Đã có không ít các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về xây dựng Đảng. Các Cương lĩnh, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đều có đề cập đến công tác xây dựng Đảng; có đại hội có báo cáo riêng về xây dựng Đảng. Chỉ tính từ Đại hội VI đến nay, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành 8 nghị quyết, Bộ Chính trị ban hành 6 nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng. Ban Bí thư khoá VII đã chỉ đạo tiến hành tổng kết 20 năm xây dựng Đảng thời kỳ 1975 – 1995; Ban Bí thư khóa IX chỉ đạo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới (1986 – 2006), trong đó có phần về xây dựng Đảng.

    Đã có nhiều Nghị quyết về xây dựng Đảng như vậy, tại sao lần này Trung ương lại phải bàn và ra Nghị quyết về xây dựng Đảng nữa?

    Theo tôi có 4 lý do:

    Một là, vai trò lãnh đạo của Đảng và công tác xây dựng Đảng luôn luôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng nước taĐây là bài học lớn, là kết luận sâu sắc được rút ra qua suốt quá trình hơn 80 năm hoạt động của Đảng ta, đồng thời cũng là lý luận khoa học và kinh nghiệm thực tiễn của nhiều đảng, nhiều nước trên thế giới. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta đã khẳng định : “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Trước kia đã như vậy, hiện nay đang như vậy, và sau này cũng sẽ vẫn như vậy. Các đảng cộng sản và công nhân quốc tế đã coi sự lãnh đạo của đảng cộng sản là vấn đề có tính nguyên tắc, có tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bác Hồ cũng đã từng nói, Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy. Sự tan rã của Liên Xô là do nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân rất cơ bản chính là vì Đảng Cộng sản lúc đó đã suy thoái, biến chất do quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi; một số người lãnh đạo cấp cao của Đảng rơi vào chủ nghĩa xét lại, cơ hội hữu khuynh, mắc sai lầm về đường lối, thậm chí phản bội lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Đảng đông (21 triệu đảng viên) nhưng không mạnh, mất sức chiến đấu nên khi tình hình xấu xảy ra đã tan rã. Có thể nói, đây là bài học vô cùng sâu sắc và đắt giá mà mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cần phải thấm thía, luôn luôn khắc sâu, ghi nhớ, đừng để đi vào “vết xe đổ” đau xót đó. Đảng Cộng sản Trung Quốc trong cải cách, mở cửa cũng luôn luôn khẳng định dứt khoát phải kiên trì vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, và trong những lần trao đổi với chúng ta, bạn thường nhấn mạnh không để bị “Tây hóa”, “tha hóa”, “thoái hóa”. Đảng Cộng sản Cu-ba đang đổi mới từng bước theo đường lối “cập nhật hóa mô hình phát triển kinh tế – xã hội”, cũng kiên quyết khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Mới đây, Đảng Cộng sản Cu-ba vừa tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc về xây dựng Đảng. Trong thời đại ngày nay có lẽ không có nước nào trên thế giới lại không có đảng (dù một đảng hay nhiều đảng) hoặc một tổ chức chính trị tương tự như đảng lãnh đạo.

    Thực tế ở nước ta cho thấy, càng đi vào đổi mới, đi vào phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập lại càng cần phải có sự lãnh đạo của Đảng và coi trọng công tác xây dựng Đảng; đây là nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, nền độc lập tự chủ của Tổ quốc ta. Vào thời điểm này, chúng ta càng cần phải khẳng định mạnh mẽ sự lãnh đạo của Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng và ý nghĩa quan trọng của công tác xây dựng Đảng. Vừa qua, cũng có nơi này, nơi khác, lúc này lúc khác chưa phải đã nhận thức một cách sâu sắc vấn đề này. Hoặc là chỉ nặng về công tác chuyên môn, chưa quan tâm đầy đủ đến công tác xây dựng Đảng; hoặc là có ý nào đó xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng, coi nhẹ công tác Đảng. Đây đó có người cho rằng phát triển kinh tế thị trường, nhiều thành phần, mở cửa, hội nhập quốc tế, liên doanh, liên kết với nước ngoài thì cần gì phải có sự lãnh đạo của Đảng. Thậm chí có ý kiến cho rằng hình như sự lãnh đạo của tổ chức đảng chỉ gây rắc rối thêm, ngáng trở sự phát triển của kinh tế (?).

    Hai là, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của nước ta hiện nay rất to lớn, nặng nề, khó khăn, đòi hỏi Đảng phải nâng tầm lãnh đạo lên cao hơn nữa, nâng sức chiến đấu mạnh hơn nữa. Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng vừa thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020 nhằm mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây thật sự là một cuộc vận động cách mạng toàn diện, sâu sắc và cao cả.

    Để thực hiện được các mục tiêu trên, chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng văn hóa, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế… Phải xử lý, giải quyết tốt các mối quan hệ lớn giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa… So với trước đây, chưa bao giờ đất nước ta lại triển khai xây dựng, phát triển và mở rộng quan hệ quốc tế với quy mô rộng lớn như hiện nay. Có rất nhiều vấn đề mới đặt ra, đòi hỏi phải được giải đáp và giải quyết, cả về lý luận và thực tiễn; có những vấn đề tưởng chừng như mâu thuẫn, nghịch lý.

    Tình hình thế giới lại đang có những diễn biến hết sức mau lẹ, phức tạp, khó dự báo, do có sự tranh chấp giữa các nước lớn, giữa các lực lượng; sự mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa các quốc gia, các giai cấp, các dân tộc, các khu vực; sự biến đổi khí hậu toàn cầu; sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ… Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa phong trào hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội với các thế lực đế quốc cực đoan, hiếu chiến đang diễn ra dưới nhiều hình thức, sắc thái mới, rất quyết liệt. Những mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế của hệ thống tư bản chủ nghĩa những năm 2008 – 2009 chưa giải quyết xong thì lại đến cuộc khủng hoảng nợ công ở Mỹ và nhiều nước Tây Âu lan tràn từ Ai-len, Hy Lạp đến Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, I-ta-li-a… Phong trào “Chiếm phố Uôn” từ Niu-oóc đã lan khắp các thành phố ở Mỹ, sang cả nhiều nước Tây Âu, Nhật Bản… Cuộc khủng hoảng nợ công này được coi là biểu hiện của “lỗi hệ thống”, phản ánh sự bế tắc của chủ nghĩa tư bản, có thể dẫn đến cuộc suy thoái mới của chủ nghĩa tư bản, theo như nhận định và dự báo của nhiều chuyên gia quốc tế. Tình hình Biển Đông, tình hình khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cũng đang có những diễn biến phức tạp mới…

    Trong tình hình ấy, chúng ta chủ trương thực hiện một đường lối đối ngoại độc lập, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập ngày càng sâu vào đời sống quốc tế; phải xử lý các mối quan hệ sao cho vừa kiên định về nguyên tắc, vừa mềm dẻo, khôn khéo về phương pháp, sách lược; vừa giữ vững độc lập chủ quyền của quốc gia, bảo vệ được chế độ chính trị, thành quả cách mạng, vừa tạo được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, xây dựng và bảo vệ đất nước, tránh được sơ hở, tránh bị mắc bẫy, thêm được bạn, bớt được thù, quả thật là không đơn giản. Trong quá trình chuyển đổi phương thức quản lý kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế, có nhiều việc chúng ta phải vừa làm, vừa học, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm và chịu tác động mặt trái của kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập. Có không ít vấn đề tác động trực tiếp đến nước ta, vào cả tư tưởng, tình cảm, tâm trạng của cán bộ, đảng viên, nhân dân ta.

    Ba là, bản thân Đảng, bên cạnh mặt tích cực, bản chất và truyền thống tốt đẹp được phát huy cũng đang đứng trước nhiều yêu cầu mới và có những hiện tượng tiêu cực, phức tạp mới. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhiều đảng viên có chức, có quyền, có điều kiện nắm giữ tài sản, tiền bạc, cán bộ;… đất nước lại phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, nhiều người lo lắng về Đảng, về bản chất Đảng, lo lắng mặt trái của cơ chế thị trường, của hội nhập quốc tế tác động vào Đảng. Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? Nhà triết học cổ điển Đức L.Foiơ Băc đã từng nói rằng, người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh. Mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai? Có giữ được bản chất là đảng cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc không? Thực tế đã có bộ phận suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Có người công khai bày tỏ ý kiến trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, làm trái nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, thậm chí có người “sám hối”, “trở cờ”; tình trạng tham nhũng, quan liêu, xa dân, tổ chức không chặt chẽ, nhiều nguyên tắc của Đảng bị vi phạm. Đây là điều đáng lo ngại nhất và cũng là nguy cơ lớn nhất đối với một đảng cầm quyền, như Lê-nin và Bác Hồ đã từng cảnh báo. Chúng ta đã tiến hành công tác xây dựng Đảng thường xuyên, liên tục trong nhiều nhiệm kỳ, với nhiều biện pháp, nhiều cuộc vận động, làm cho Đảng ta ngày càng tiến bộ, trưởng thành; song vẫn còn nhiều hạn chế. Các mặt khuyết điểm, yếu kém chưa khắc phục được bao nhiêu, có mặt còn phức tạp thêm, gây băn khoăn, lo lắng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tác động tiêu cực vào sức chiến đấu, vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây thực sự là những cảnh báo không thể xem thường.

    Bốn là, sự chống phá điên cuồng và quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động. Âm mưu cơ bản, lâu dài của chúng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Để thực hiện được âm mưu cơ bản đó, các thế lực thù địch đã áp dụng lần lượt hết chiến lược này đến chiến lược khác, hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, rất kiên trì, kiên quyết, xảo quyệt. “Diễn biến hòa bình” là một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, là “thủ đoạn hòa bình để giành thắng lợi”. Nhiều chuyên gia và chính khách phương Tây còn gọi đây là phương pháp “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”, “cách mạng hòa bình” và gần đây là “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”… Trong chiến lược này, hoạt động tư tưởng – văn hóa được họ coi là “mũi đột phá”, là “cây cầu dẫn vào trận địa”, là lĩnh vực hàng đầu làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra khoảng trống để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào, rồi cuối cùng xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Chính các nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc đã tổng kết: “Có những việc 100 máy bay chiến đấu không thực hiện nổi, nhưng chỉ cần 10 sứ giả lại có thể hoàn thành”; “một đài phát thanh cũng có thể bình định xong một đất nước”. Ngày nay “làn sóng điện đang thay thế thanh gươm; cây bút là phương tiện đi vào trái tim khối óc con người”; “một đô la chi cho tuyên truyền có tác dụng ngang với 5 đô la chi cho quốc phòng”; “kích động vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là bốn đòn đột phá khẩu, bốn mũi xung kích để chọc thủng mặt trận tư tưởng chính trị”.

    Thời gian gần đây, các làn sóng chống đối ta về mặt tư tưởng chính trị lại rộ lên, có lúc dồn dập. Có thể là do tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến mới; tình hình kinh tế – xã hội nước ta bên cạnh thành tựu lớn cũng xuất hiện những khó khăn và thách thức mới, các tệ nạn xã hội như tham nhũng, hối lộ, ma túy, mại dâm… tiếp tục gia tăng, sự phân hoá giàu nghèo phát triển. Tình trạng quan liêu, mất dân chủ làm dân bất bình dẫn đến khiếu kiện đông người ở một số nơi phức tạp. Các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chắc mẩm đây là cơ hội để họ dấn tới tác động, làm chuyển hoá tình hình, thay đổi đường lối ở nước ta, cho nên họ hoạt động rất điên cuồng với nhiều thủ đoạn và sách lược mới; vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển lực lượng ở trong nước ta để tạo ra sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống đối từ nội bộ Đảng ta, xã hội ta, hòng phá ta từ bên trong phá ra, làm cho “cộng sản tự diệt cộng sản”, “cộng sản con diệt cộng sản bố”. Họ đang cố tìm ra và dựng lên những “ngọn cờ” để chống ta. Một số người cơ hội chính trị, bất mãn cũng lợi dụng các diễn đàn, các mối quan hệ để truyền bá những quan điểm sai trái của mình, liên tiếp viết đơn thư, tài liệu vu cáo, đả kích chế độ ta, tác động vào nhân dân, nhất là thanh niên, sinh viên, văn nghệ sĩ, trí thức…

    Nội dung các quan điểm của họ vẫn là những luận điệu lâu nay các nhà tư tưởng chống cộng đã từng nói và đã từng nhiều lần bị chúng ta phê phán, bác bỏ. Đại thể vẫn là phủ nhận thành tựu của cách mạng; thổi phồng khuyết điểm, tồn tại của chúng ta, bôi đen hiện thực, gieo rắc hoài nghi, phá rã niềm tin của nhân dân và cán bộ, quy kết là do đường lối sai, sự lãnh đạo, quản lý yếu kém của Đảng và Nhà nước. Phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ định con đường xã hội chủ nghĩa, định hướng xã hội chủ nghĩa; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, phê phán, đổ lỗi cho Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng. Kích động chia rẽ nội bộ, tung ra những luận điệu trong Đảng, trong Trung ương, Bộ Chính trị có phe này, phái kia; bịa đặt, xuyên tạc lịch sử; vu cáo, bôi nhọ một số đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, kể cả Bác Hồ, tìm mọi cách “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”… Những luận điệu của các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị nói trên tuy không có gì mới, nhưng nó được tung ra, truyền bá vào lúc này là hết sức độc hại, nguy hiểm, gieo rắc hoang mang, nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong nội bộ ta, tác động hòng làm đội ngũ ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Trong bối cảnh tình hình nêu trên, nếu Đảng ta không giữ được bản chất cách mạng của mình, không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên. Chính vì vậy mà Đảng ta luôn luôn nhấn mạnh phải đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta. Và đó cũng chính là những lý do giải thích vì sao lần này Ban Chấp hành Trung ương phải tiếp tục bàn và ra Nghị quyết về xây dựng Đảng.

    II- MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU, QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ VÀ PHẠM VI CỦA NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4

    1- Mục đích, yêu cầu

    Đại hội XI của Đảng đã xác định chủ đề và cũng là tư tưởng chỉ đạo cho những năm tới là phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và đề ra yêu cầu phải xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ, phương thức lãnh đạo… tập trung vào 8 nhiệm vụ cơ bản có tính hệ thống, toàn diện. Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp, phải tiến hành thường xuyên, lâu dài. Trước mắt, cần lựa chọn một số vấn đề cấp bách nhất cần tập trung làm ngay để tạo ra được những chuyển biến cụ thể, rõ rệt, đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn và góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Hội nghị Trung ương 4 bàn và ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” chính là để đáp ứng yêu cầu đó, nhằm cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội XI của Đảng phần nói về xây dựng Đảng, thực hiện Chương trình toàn khoá của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI.

    2- Quá trình và cách thức chuẩn bị Hội nghị Trung ương 4

    Nhận thức rõ vị trí và ý nghĩa quan trọng của Hội nghị Trung ương lần này, Bộ Chính trị đã tập trung chỉ đạo công việc chuẩn bị một cách rất khẩn trương, nghiêm túc và có bước đổi mới với yêu cầu phải rất cụ thể, thiết thực, khả thi, làm sao chọn đúng vấn đề, xác định đúng trọng tâm, đề ra được những biện pháp tích cực mang tính đột phá để tạo được chuyển biến rõ rệt trong thực tế. Bộ Chính trị đã thành lập Ban Chỉ đạo chuẩn bị xây dựng Đề án, gồm một số đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và đại diện lãnh đạo các ban đảng ở Trung ương do đồng chí Thường trực Ban Bí thư làm Trưởng ban. Ban Chỉ đạo đã thành lập Tổ Biên tập khẩn trương tổ chức nghiên cứu, xây dựng Đề án. Dự thảo Đề án đã được gửi lấy ý kiến đóng góp của các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và một số cơ quan nghiên cứu lý luận ở Trung ương. Đã tổ chức 4 hội nghị lấy ý kiến của đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, bí thư, phó bí thư tỉnh ủy, thành ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Thường trực Ban Chỉ đạo trực tiếp làm việc, nghe ý kiến đóng góp của nhiều đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao, lão thành cách mạng và nhiều đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng có kinh nghiệm về công tác xây dựng Đảng. Bộ Chính trị đã dành 2 phiên họp để nghe Ban Chỉ đạo báo cáo và thảo luận những nội dung quan trọng của Đề án để trình Trung ương.

    Tại Hội nghị Trung ương 4, các đồng chí Ủy viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm rất cao, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào các đề án, báo cáo của Bộ Chính trị. Đã có 202 lượt ý kiến phát biểu ở tổ và Hội trường; nhiều đồng chí gửi ý kiến bằng văn bản hoặc sửa trực tiếp vào dự thảo Nghị quyết. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương đã thông qua nội dung Nghị quyết và ngày 16-01-2012, Nghị quyết đã được ban hành. Tinh thần chung và sự thống nhất rất cao của Trung ương là quyết tâm tạo ra những bước chuyển biến rõ rệt, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng vì sự nghiệp của đất nước, của dân tộc và của Đảng. Như vậy, Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 thực sự là sản phẩm của trí tuệ tập thể.

    3- Về phạm vi của Nghị quyết

    Lần này, Trung ương không bàn toàn diện mà chỉ chọn một số vấn đề cấp bách nhất về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay để tập trung chỉ đạo thực hiện với mong muốn khắc phục những cách làm dàn trải trước đây, tạo ra bước chuyển biến cụ thể, thiết thực trong thực tế. Đó là 3 vấn đề: (1) Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. (2) Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. (3) Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

    Trong 3 vấn đề trên, khi thảo luận có ý kiến hỏi vấn đề nào là trọng tâm, là quan trọng nhất, cấp bách nhất? Có ý kiến cho rằng, bây giờ vấn đề tư tưởng chính trị là quan trọng nhất, vì nó liên quan đến sinh mệnh chính trị của Đảng, đến Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng – tức là vấn đề rất cốt tử. Ý kiến khác lại nói vấn đề ấy là ở trên Trung ương, ở tầm cao, tầm chiến lược, chứ còn ở địa phương, ở cơ sở thì điều nhức nhối là vấn đề suy thoái đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, vấn đề này quần chúng dễ nhìn thấy. Quần chúng ở cơ sở không mất lòng tin vào Đảng, vào đường lối, mà mất lòng tin vào con người cán bộ cụ thể ở cơ sở, mất lòng tin qua một số hiện tượng như tham nhũng, tiêu cực, suy thoái phẩm chất đạo đức, cho nên phải coi vấn đề đạo đức, lối sống là vấn đề cấp bách nhất. Lại có ý kiến cho rằng, bây giờ nguyên nhân của mọi nguyên nhân vẫn là vấn đề cán bộ; con người là quyết định hết thảy. Chúng ta nói mãi mà tổ chức cứ phình ra, bộ máy thì chồng chéo, biên chế thì tăng lên, lương thì bất hợp lý cho nên phải gỡ từ công tác tổ chức, cán bộ. Cũng có ý kiến cho rằng, hiện nay thẩm quyền, trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân xác định không rõ, nên nhiều vụ việc không xử lý được vì không ai chịu trách nhiệm; có tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, thành tích thì nhận của cá nhân, còn khuyết điểm thì đổ cho tập thể; vì vậy vấn đề phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân là vấn đề cấp bách nhất. Mỗi ý kiến đều có khía cạnh hợp lý, đều quan trọng và cấp bách cả, không thể coi nhẹ vấn đề nào. Tuy nhiên, đứng trên tổng thể mà xét, hiện nay cái làm cho quần chúng oán thán nhất, gây mất lòng tin nhất, làm xói mòn bản chất Đảng đó chính là sự suy thoái cả về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; cái này thật là nghiêm trọng. Cho nên, 3 vấn đề đã nêu đều quan trọng và có liên quan mật thiết với nhau, nhưng Trung ương thống nhất xác định vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất . Đây chính là khâu đột phá trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng hiện nay, là “mắt xích” chủ yếu mà chúng ta cần nắm lấy, song trong chỉ đạo không được coi nhẹ 2 vấn đề kia.”

    III- NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT

    Như trên đã nói, lần này Trung ương đổi mới cách ra Nghị quyết. Bản Nghị quyết được viết ngắn gọn, nhưng chứa đựng nhiều nội dung cơ bản và quan trọng, có nhiều điểm mới, chủ yếu tập trung vào 3 vấn đề cấp bách đã được xác định. Trên cơ sở đó, đi thẳng vào đánh giá tình hình, phân tích nguyên nhân, chỉ rõ mục tiêu, phương châm, các giải pháp tiến hành và cách tổ chức thực hiện. Đề nghị các đồng chí đọc, nghiên cứu trực tiếp. Tôi chỉ nhấn mạnh thêm một số điểm :

    1- Về đánh giá tình hình và nguyên nhân

    Việc đánh giá tình hình thường rất khó, vì nó tuỳ thuộc vào chỗ đứng, góc nhìn, cách nhìn, lượng thông tin có được của mỗi người. Thực tế khi thảo luận ở Hội nghị Trung ương và xin ý kiến đóng góp của một số tập thể và cá nhân, có một số ý kiến cho rằng, Đề án chưa thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, còn né tránh, chưa thấy hết mức nghiêm trọng của những yếu kém, khuyết điểm, tình hình nghiêm trọng hơn nhiều. Một số ý kiến khác lại cho rằng, Đề án nêu phần khuyết điểm quá nặng nề, đen tối, tình hình Đảng không đến mức như vậy; nếu xấu như vậy thì tại sao những năm qua chúng ta tiến hành sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu to lớn mà cả thế giới thừa nhận, vị thế nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao ? Nói thế nào cho khoa học, đúng mức, không nên tự bôi nhọ mình, để kẻ xấu lợi dụng. Nó đang muốn phá vỡ niềm tin, bôi xấu mình thì mình lại tự làm mất uy tín của mình, như thế thì có khác nào tiếp thêm đạn cho địch bắn.

    Trung ương yêu cầu cần phải có phương pháp nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, biện chứng, khoa học, nhìn thẳng vào sự thật, bình tĩnh, không phiến diện, không tô hồng và cũng không bôi đen; chỉ ra cả mặt thành tựu và yếu kém; phân tích toàn diện cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Thực tế có đến đâu nói đến đấy, không nên thổi phồng, cường điệu một mặt nào.

    Với những nguyên tắc phương pháp luận đó, Trung ương đã chỉ rõ, trải qua hơn 80 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, với bản lĩnh của một Đảng cách mạng chân chính, dày dạn kinh nghiệm, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng ta đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng… Trong thời kỳ đổi mới, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao; phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước được đổi mới; vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững; niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt. Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng. Thành tựu 25 năm đổi mới là thành quả của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    Hầu hết ý kiến đề nghị là phải khẳng định mạnh mẽ thành tựu, ưu điểm, bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng của Đảng ta. Phải khẳng định phần lớn cán bộ, đảng viên ta rất tốt; nếu không tốt thì làm gì có thành tựu như bây giờ. Thực tế lịch sử không thể phủ nhận được là, hơn 80 năm qua, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình chính là bằng bản lĩnh, nghị lực; trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho dân tộc; bằng sự hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết chặt chẽ, vững chắc; bằng mối liên hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ. Tổ quốc ta, dân tộc ta chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay, chưa bao giờ có được vị thế trên trường quốc tế như hiện nay.

    Tuy nhiên, Trung ương cũng thẳng thắn vạch ra những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trên cả 3 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, chỉ ra tính chất, phạm vi, xu thế và hậu quả của những yếu kém, khuyết điểm đó. Phải nói, về tính chất, là nghiêm trọng, kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, chậm được khắc phục. Về phạm vi, là tương đối phổ biến, có ở các cấp, các ngành (“một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”). Về xu hướng, là diễn biến phức tạp, chưa ngăn chặn, đẩy lùi được. Về hậu quả, là làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; làm suy giảm vị trí, vai trò, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng; làm tổn hại tới uy tín, thanh danh của Đảng, Nhà nước. Những khuyết điểm đó nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ ta.

    Trên vấn đề thứ nhất, Trung ương đã nghiêm khắc chỉ ra những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và suy thoái về đạo đức, lối sống. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị thể hiện ở chỗ: phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, dao động, thiếu niềm tin, sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ hoạ theo những nhận thức sai, quan điểm lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng.

    Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, lãng phí; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; phong cách quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân; lối sống xa hoa, hưởng lạc… Trong những biểu hiện đó, cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận xã hội quan tâm nhiều nhất, bức xúc nhất là tình trạng tham nhũng, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm… ở một bộ phận đảng viên có chức, có quyền, cả trong một số cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, đương chức, hoặc thôi chức.

    Trên vấn đề thứ hai, Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một số khuyết điểm trong công tác tổ chức, cán bộ. Đội ngũ cán bộ cấp trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng, nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản. Công tác quy hoạch cán bộ mới tập trung thực hiện ở địa phương, chưa xây dựng được quy hoạch ở cấp trung ương, dẫn đến sự hẫng hụt, chắp vá, không đồng bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ. Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước.

    Trên vấn đề thứ ba, Trung ương chỉ ra tình trạng không rõ ràng, rành mạch về thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị và mối quan hệ với tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị, ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho các việc làm tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích cá nhân.

    Về nguyên nhân của yếu kém, khuyết điểm: Trung ương xem xét khá toàn diện, chỉ ra cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Các nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động lẫn nhau, xuyên thấm vào nhau rất phức tạp. Đáng chú ý là :

    + Nguyên nhân về sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân; ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm, bất chấp đạo lý, dư luận; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm; cán bộ lãnh đạo, quản lý không gương mẫu.

    + Nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, không ít nơi có tình trạng dân chủ hình thức; tập thể là “bình phong” để hợp thức hoá ý kiến của thủ trưởng, mà thực chất là gia trưởng, độc đoán. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện rất kém, thiếu thẳng thắn, trung thực; xuê xoa, nể nang. Trong hội nghị thì nhất trí nhưng ra ngoài nói khác hoặc không thực hiện. Khi đương chức thì không nói hoặc nói kiểu này, khi nghỉ chức vụ hoặc về hưu lại nói kiểu khác. Khi còn phụ trách thì không được góp ý kiến nhưng khi nghỉ hưu, hoặc chuyển công tác thì có rất nhiều đơn, thư tố cáo. Mặt khác, lại có tình trạng dân chủ không đi đôi với kỷ luật; kỷ cương không nghiêm. Có tình trạng vi phạm nguyên tắc sinh hoạt đảng, tán phát “tờ rơi”, thư nặc danh, đưa tin đồn để nói xấu, đả kích, làm mất uy tín nhau, gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ; thậm chí núp đằng sau xúi quần chúng đấu tranh.

    + Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ, chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thật sự để trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém.

    + Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống nhiều khi còn hình thức, chưa đủ sức động viên ý chí cách mạng của cán bộ, đảng viên. Công tác nghiên cứu lý luận còn bất cập, lạc hậu, chưa giải đáp được nhiều vấn đề lý luận – thực tiễn còn vướng mắc hoặc ý kiến khác nhau. Tình trạng lười học tập hoặc học qua loa, đại khái, học đối phó, học cốt để lấy bằng còn xảy ra khá phổ biến.

    + Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, ráo riết; đấu tranh với những vi phạm còn nể nang, không nghiêm túc…

    Từ sự phân tích trên đây, chúng ta có thể trả lời được câu hỏi mà nhiều người đặt ra là tại sao từ trước đến nay, Đảng đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng Đảng, đã chỉ đạo nhiều cuộc vận động đổi mới, chỉnh đốn Đảng nhưng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, chưa ngăn chặn, đẩy lùi được. Đó chính là do nguyên nhân chủ quan, do lỗi của chúng ta; do sự yếu kém, thiếu kiên quyết trong công tác giáo dục, lãnh đạo, quản lý; do sự thiếu rèn luyện, tu dưỡng, thực hành liêm chính của một số cán bộ, đảng viên; sự thiếu gương mẫu của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Suy đến cùng là do không vượt qua được chủ nghĩa cá nhân . Bác Hồ đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù hung ác, là giặc nội xâm, nó không mang gươm, mang súng nhưng vô cùng nguy hiểm, gian giảo, xảo quyệt; nó kéo người ta xuống dốc không phanh. Mọi thứ xấu xa, hư hỏng đều sinh ra từ căn bệnh này. Nếu không đánh bại, không quét sạch chủ nghĩa cá nhân thì Đảng ta không thể trong sạch, vững mạnh được, không thể là một đảng cách mạng chân chính hết lòng vì nước, vì dân được.

    2- Về các nhiệm vụ và giải pháp

    Trên cơ sở xác định 3 nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách như đã nêu trên, Trung ương chỉ ra các giải pháp bảo đảm đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, khả thi, kết hợp “chống và xây”, “xây và chống”, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp bách nhất. Có 4 nhóm giải pháp: (1) Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên. (2) Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt Đảng. (3) Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách. (4) Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

    Tinh thần toát lên trong các nhóm giải pháp đó là cần xác định những việc cần và có thể làm ngay và những việc cần phải có thời gian chuẩn bị, nhất là về xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, để xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện một cách kiên quyết, khả thi, hiệu quả.

    Những việc cần và có thể làm ngay là: Từng cán bộ, đảng viên, trước hết là từng đồng chí Uỷ viên Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư tự giác, gương mẫu tự phê bình, kiểm điểm, nhìn lại mình, tự điều chỉnh mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình; cảnh giác trước mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài, tránh rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiến hành kiểm điểm, đánh giá, làm rõ trách nhiệm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đẩy mạnh chỉ đạo việc học tập, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống. Người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giải quyết từng vấn đề cấp bách, những việc cần làm ngay, xác định rõ về công việc, thời gian hoàn thành và người chịu trách nhiệm cụ thể. Nghiêm túc thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; xử lý dứt điểm một số vụ việc mà dư luận quan tâm; cải tiến, nâng cao chất lượng việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

    Đối với những việc cần phải có thời gian chuẩn bị thì khẩn trương, nghiên cứu, tổng kết, đề xuất để đi đến quyết định và thực hiện. Ví dụ: Phải khẩn trương đổi mới công tác tổ chức cán bộ, chế độ sinh hoạt Đảng; kiểm tra, giám sát việc tự rèn luyện và giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Hoàn thiện các cơ chế, chính sách, nhất là chính sách đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ cho phù hợp với điều kiện mới. Xây dựng quy định cụ thể về việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, đẩy mạnh thực hiện chất vấn trong Đảng. Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, gắn với việc tổ chức thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; có cơ chế giám sát chặt chẽ của tổ chức đảng và nhân dân, kịp thời thay thế những người không hoàn thành nhiệm vụ. Tiếp tục cải cách chế độ tiền lương, nhà ở, bảo đảm cho cán bộ, công chức có mức sống ổn định và có điều kiện để giữ liêm, đồng thời chống đặc quyền, đặc lợi.

    Trong các nhóm giải pháp, có một số điểm mới là :

    1- Các giải pháp bảo đảm tính đồng bộ, nhưng cũng rất tập trung, có lộ trình, kết hợp “chống và xây”, “xây và chống”, hướng vào giải quyết ba vấn đề bức xúc nhất, với mong muốn tạo được sự chuyển biến cụ thể, rõ rệt trong thực tế.

    2- Nêu cao và rất nhấn mạnh sự tự phê bình và phê bình, sự gương mẫu của cấp trên, của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trước hết là cấp trung ương và người đứng đầu các ngành, các cấp, các đơn vị. Nghị quyết nói rõ là : “Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp uỷ đảng, cán bộ chủ chốt, nhất là cấp trung ương, người đứng đầu làm trước và phải thật sự gương mẫu để cho các cấp noi theo”. “Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, các đồng chí ủy viên ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các ban của Trung ương Đảng, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy các cấp nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nêu gương bằng hành động thực tế”.

    3- Việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình được quy định khá chặt chẽ và cụ thể. Nội dung chủ yếu tập trung vào 3 vấn đề cấp bách nêu trong Nghị quyết lần này gắn với việc thực hiện 19 điều đảng viên không được làm và việc giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm ở địa phương, đơn vị, ngành mình. Về cách làm thì từng đồng chí cấp uỷ, từng cán bộ, đảng viên phải chủ động, tự giác xem lại mình để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, không chờ đến khi tổ chức hội nghị kiểm điểm. Trước khi mở hội nghị kiểm điểm phải chuẩn bị thật kỹ, phải tổ chức lấy ý kiến góp ý của cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội cùng cấp và các đồng chí nguyên là cấp ủy viên cùng cấp. Ủy ban kiểm tra chủ trì phối hợp với ban tổ chức, ban tuyên giáo, ban dân vận, văn phòng và các cơ quan liên quan kiến nghị với cấp uỷ (hoặc thường vụ cấp uỷ) nội dung gợi ý kiểm điểm cho tập thể, cá nhân ở những nơi cần thiết. Sau khi kiểm điểm, báo cáo kết quả với cấp trên và thông báo với cấp dưới và các cơ quan lấy ý kiến góp ý. Cấp ủy, tổ chức đảng nào, cán bộ, đảng viên nào kiểm điểm tự phê bình và phê bình không đạt yêu cầu phải kiểm điểm lại; kiên quyết xử lý kỷ luật những cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không tự giác kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, không tự nhận sai lầm, khuyết điểm, không khắc phục được những hạn chế, khuyết điểm đã được nêu ra. Những trường hợp có vi phạm, tự giác kiểm điểm, tự phê bình nghiêm túc, tích cực sửa chữa, khắc phục, sẽ được xem xét giảm hoặc miễn xử lý kỷ luật. Sau đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương lần này sẽ duy trì nghiêm túc nền nếp, chế độ tự phê bình, phê bình hằng năm gắn với kiểm điểm theo chức trách, nhiệm vụ được giao và lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo trong cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể. Định kỳ hằng năm, cấp uỷ, tổ chức đảng có hình thức thích hợp thông báo kết quả kiểm điểm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân biết, đóng góp ý kiến. Định kỳ tổ chức để nhân dân góp ý xây dựng Đảng thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội các cấp.

    Làm tốt việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình sẽ có căn cứ để hiểu rõ thêm cán bộ, đánh giá, xem xét, sàng lọc đội ngũ cán bộ của cả hệ thống chính trị và chuẩn bị quy hoạch cấp uỷ, các chức danh chủ chốt các cấp nhiệm kỳ tới. Quy định việc lấy phiếu tín nhiệm hằng năm đối với các chức danh lãnh đạo trong cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể. Đồng thời kiến nghị với Quốc hội sớm có hướng dẫn để thực hiện quy định việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Những người hai năm liền tín nhiệm thấp, không hoàn thành nhiệm vụ cần được xem xét, cho thôi giữ chức vụ, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác.

    4- Xúc tiến việc xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016 – 2020; tích cực tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tham mưu, chuyên gia cấp chiến lược. Thực hiện bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý chủ trì cấp trên nói chung phải qua chức vụ lãnh đạo quản lý chủ trì ở cấp dưới.

    5- Xây dựng và thực hiện một số quy chế bảo đảm phát huy hơn nữa dân chủ trong Đảng, tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên. Triển khai thực hiện việc chất vấn trong Đảng, nhất là chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương và cấp uỷ các cấp. Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản theo quy định; kê khai phải trung thực và được công khai ở nơi công tác và nơi cư trú. Xử lý nghiêm người kê khai không đúng. Quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị. Ban hành quy chế để hằng năm Ban Chấp hành Trung ương góp ý kiến, thể hiện sự tín nhiệm đối với tập thể và từng thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư; ban chấp hành đảng bộ các cấp góp ý kiến, thể hiện sự tín nhiệm đối với tập thể và từng thành viên ban thường vụ cấp uỷ cấp mình.

    Ủy ban kiểm tra các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát đối với cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý trong việc chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước; hằng năm có báo cáo kết quả thực hiện của cán bộ thuộc cấp ủy quản lý trong việc chấp hành quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức. Xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ; loại trừ khả năng để cán bộ và người thân của cán bộ lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi.

    6- Về công tác cán bộ, xây dựng tiêu chuẩn cán bộ theo chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ, làm cơ sở cho việc quy hoạch, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ. Tiếp tục thực hiện thí điểm chủ trương bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện; gắn với xây dựng quy chế kiểm tra, giám sát, bảo đảm thực sự có hiệu quả, ngăn chặn sự lạm quyền, độc đoán. Sơ kết, rút kinh nghiệm để có chủ trương về việc đại hội đảng bộ từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở trực tiếp bầu cấp uỷ có số dư. Thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ chủ chốt ở cấp tỉnh, cấp huyện không phải là người địa phương. Thí điểm việc giao quyền cho bí thư cấp uỷ lựa chọn, giới thiệu để bầu cử uỷ viên thường vụ cấp uỷ; cấp trưởng có trách nhiệm lựa chọn, giới thiệu để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó; thí điểm chế độ tiến cử, chế độ tập sự lãnh đạo quản lý; thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự theo hướng những người được dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải trình bày đề án hoặc chương trình hành động trước khi cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

 7- Về cách triển khai thực hiện Nghị quyết, lần này nhấn mạnh vai trò của đồng chí bí thư cấp uỷ. Đồng chí bí thư cấp ủy, tổ chức đảng phải trực tiếp nghiên cứu, phổ biến, quán triệt Nghị quyết và chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện Nghị quyết tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình. Phân công một số đồng chí thường trực chỉ đạo. Ở Trung ương gồm Tổng Bí thư, đồng chí Thường trực Ban Bí thư, các đồng chí Trưởng Ban Tổ chức, Kiểm tra, Tuyên giáo, Dân vận; ở cấp tỉnh, thành phố và các đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương cũng làm tương tự như vậy.

    IV- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” là một nghị quyết có tầm quan trọng đặc biệt. Nghị quyết đã được toàn Đảng, toàn dân rất hoan nghênh và tán thành, coi như đã thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống chính trị của đất nước. Tuy nhiên, tâm lý chung hiện nay là đang chờ đợi, chờ đợi và hy vọng. Vấn đề quyết định bây giờ là khâu tổ chức thực hiện Nghị quyết. Tinh thần chung của Trung ương là quyết tâm thực hiện, khó mấy cũng phải thực hiện. Bộ Chính trị đã có Chỉ thị và sẽ có Kế hoạch triển khai thực hiện, nêu rõ các yêu cầu, công việc, lộ trình, thời gian, cách thức và các bước tiến hành cụ thể. Tôi chỉ xin lưu ý một số điểm chung sau đây:

    – Phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết, nắm vững những tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình để gương mẫu, tự giác thực hiện và chỉ đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết trên mỗi cương vị công tác tại địa bàn, lĩnh vực do mình phụ trách.

    – Ngay sau khi kết thúc Hội nghị cán bộ này, Bộ Chính trị sẽ chỉ đạo tiếp thu ý kiến của các đồng chí, hoàn chỉnh và ban hành sớm kế hoạch của Bộ Chính trị về việc thực hiện nghị quyết của Trung ương; chỉ đạo các ban đảng Trung ương tiếp thu ý kiến của Hội nghị để sớm ban hành các văn bản hướng dẫn phù hợp với từng mảng công việc. Căn cứ vào Nghị quyết của Trung ương, Chỉ thị và Kế hoạch của Bộ Chính trị, sự chỉ đạo hướng dẫn của các ban đảng Trung ương và các cơ quan cấp trên, các cấp ủy và tổ chức đảng các cấp, các ngành phải xây dựng kế hoạch, chương trình học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, ngành mình. Phải làm rất khẩn trương, nghiêm túc, thiết thực; có sự phân công trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, chặt chẽ.

    – Từng cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu, người chủ trì phải tự giác, gương mẫu làm trước (ngay sau Hội nghị này, không phải chờ gì cả) tự kiểm điểm, soi lại mình, đơn vị mình, gia đình mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình. Mọi đảng viên đều phải làm như vậy, chứ không phải chỉ đứng ngoài mà “phán”, hoặc “chờ xem”, coi như mình vô can.

    – Phải thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp một cách đồng bộ, tổng hợp đồng thời có trọng tâm, trọng điểm; bao gồm cả việc thực hiện 8 nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, các quy định khác của Đảng và Nhà nước; kết hợp giữa “xây và chống”, “chống và xây”. Nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái; đấu tranh mạnh mẽ chống tham nhũng, hư hỏng, tiêu cực; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên, cán bộ; công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán của các cơ quan chức năng; nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; phát huy vai trò giám sát của nhân dân, các đoàn thể, của báo chí, công luận.

    – Việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình cần được chuẩn bị thật chu đáo, chỉ đạo tỉ mỉ, chặt chẽ, tiến hành nghiêm túc, thận trọng; làm đến đâu chắc đến đó, đạt kết quả cụ thể, thực chất. Hết sức tránh làm lướt, làm qua loa, hình thức, chiếu lệ. Khắc phục tình trạng xuê xoa, nể nang, thậm chí biến cuộc họp tự phê bình và phê bình thành nơi vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; cũng như tình trạng lợi dụng dịp này để “đấu đá”, “hạ bệ” nhau với những động cơ không trong sáng. Nghiêm khắc xử lý những trường hợp trù dập phê bình và vu cáo người khác. Kinh nghiệm cho thấy, muốn tự phê bình và phê bình có kết quả tốt, điều quan trọng là phải thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, người đứng đầu phải gương mẫu và phải có các hình thức dân chủ để quần chúng đóng góp phê bình cán bộ, đảng viên và phải nghiêm túc tiếp thu những ý kiến phê bình đúng đắn. Những trường hợp sai phạm nghiêm trọng mà không thành khẩn, không tự giác, tập thể giúp đỡ mà không tiếp thu thì phải xử lý thích đáng. Thái độ nể nang, hữu khuynh, “ngậm miệng ăn tiền” hoặc thái độ cực đoan, muốn lợi dụng phê bình để đả kích người khác, gây rối nội bộ, đều là không đúng. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi mỗi người phải có tinh thần tự giác rất cao, có tình thương yêu đồng chí thật sự và phải có dũng khí đấu tranh thẳng thắn, chân tình. Đây cũng là dịp để hiểu thêm cán bộ, có cơ sở để đánh giá cán bộ, xem xét kết hợp chuẩn bị quy hoạch cán bộ cho thời gian tới.

    – Phải đặt việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng trong tổng thể thực hiện các nghị quyết khác của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ…, nói rộng ra là trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cả hệ thống chính trị, bảo đảm thúc đẩy việc hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, an ninh – quốc phòng, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại… chứ không phải “đóng cửa” để chỉnh đốn Đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là để làm cho Đảng ta ngày càng mạnh hơn; cán bộ, đảng viên gương mẫu hơn; tổ chức đảng có sức chiến đấu cao hơn; đoàn kết nội bộ tốt hơn; gắn bó với nhân dân mật thiết hơn; thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị đạt kết quả cao hơn; chứ không phải ngược lại.

    – Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người, đòi hỏi mỗi người phải tự phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác. Nếu không thật tự giác, chân thành, công tâm thì rất dễ chủ quan, thường chỉ thấy ưu điểm, mặt mạnh của mình nhiều hơn người khác; trong khi chỉ thấy khuyết điểm, mặt yếu của người khác nhiều hơn mình. Vì vậy, thường rất khó, rất phức tạp. Khó nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Đảng ta đã làm, làm nhiều, làm thường xuyên và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Nếu không làm thì không có được những thành quả như ngày nay. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, trước thực trạng một số yếu kém, khuyết điểm, hơn lúc nào hết, Đảng ta càng phải đặc biệt coi trọng hơn nữa nhiệm vụ xây dựng Đảng như Đại hội XI và Hội nghị Trung ương 4 đã chỉ ra, tạo bước chuyển thực sự trong công tác này. Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là: tất cả chúng ta, từ trên xuống dưới, đều phải có quyết tâm rất lớn, có sự thống nhất rất cao, có biện pháp thực hiện quyết liệt, khả thi, chỉ đạo chặt chẽ với một phương pháp tư duy đúng đắn, tỉnh táo, bình tĩnh, không cực đoan, không để các thế lực xấu lợi dụng, xuyên tạc, kích động, phá hoại. Có những việc không thể chỉ làm một lần là xong. Ngược lại, phải làm rất kiên trì, bền bỉ; làm thường xuyên, liên tục; làm đi làm lại nhiều lần như đánh răng, rửa mặt hằng ngày. Có khi giải quyết xong vấn đề này lại nảy sinh vấn đề khác, làm được việc này lại xuất hiện việc khác. Nếu không xác định như vậy thì mỗi khi thấy có sự việc tiêu cực trong Đảng dễ mất bình tĩnh, nảy sinh tư tưởng bi quan, hoài nghi, hoặc mất niềm tin, phủ nhận mọi sự cố gắng và kết quả chung.

    Thưa các đồng chí,

    Những nội dung trình Hội nghị cán bộ toàn quốc lần này là những vấn đề rất cơ bản và hệ trọng. Thời gian Hội nghị không nhiều, đề nghị các đồng chí nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung dành thời gian nghiên cứu, thảo luận, góp ý kiến để tạo thống nhất cao trong việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết.

    Bộ Chính trị, Ban Bí thư tin tưởng rằng, với truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng ta, với quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, lại được nhân dân đồng tình, ủng hộ, nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4, tạo bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

    Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi xin gửi đến các đồng chí lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, nhiều niềm tin mới, khí thế mới. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.”/.

*

*      *


Ai xây “chủ nghĩa tư bản man rợ” ở VN?


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2012/02/120226_vn_marxist_lu_phuong.shtml

Cập nhật: 17:18 GMT – chủ nhật, 26 tháng 2, 2012

 

Nhà nghiên cứu chủ nghĩa Marx Lữ Phương chuyên tâm nghiên cứu độc lập và so sánh chủ nghĩa Marx đích thực với thực tiễn Việt Nam trong hàng chục năm qua.

Lý luận gia Marxist và nhà nghiên cứu chính trị về đảng Cộng sản Việt Nam từ trong nước, ông Lữ Phương cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay không hề “liên quan” gì tới Chủ nghĩa Marx, mà chỉ đang “lợi dụng” chủ thuyết này trong việc xây dựng một thứ “chủ nghĩa tư bản man rợ, rừng rú.”

Trao đổi với bbcvietnamese.com hôm thứ Bảy, 26/02/2012, trong chuyên đề về trí thức, Đảng Cộng sản và phản biện xã hội, nhà nghiên cứu độc lập này khẳng định chủ nghĩa Marx “đích thực” không có quan hệ gì đến thực tiễn Việt Nam trong suốt chặng đường lịch sử nhiều chục năm qua và hiện nay.

Ông nói: “Tôi thấy, Chủ nghĩa Marx chẳng dính dấp gì đến thực tại Việt Nam cả. Thứ nhất, những người nhân danh chủ nghĩa Marx để họ quản lý, lãnh đạo xã hội, họ cho rằng ‘tiến lên chủ nghĩa xã hội’, nói một cách văn vẻ, thì họ ngộ nhận, họ hiểu lầm, họ không hiểu gì cả.

“Còn nói trắng ra, họ lợi dụng, họ bóp méo hoàn toàn chủ nghĩa Marx, không dính dấp gì ở đây, nó là một chủ nghĩa Lênin, Stalin hóa, và nó là của Mao Trạch Đông. Cho nên những người nhân danh cái này để gọi là lãnh đạo Việt Nam, thì hoàn toàn không có cơ sở thực tế.

“Còn những người nào mà qua thực tế lãnh đạo nhân danh chủ nghĩa Marx này mà phủ định Marx, phê phán một cách vội vàng cũng không đúng luôn. Ý của tôi, chủ nghĩa Marx không dính dấp gì đến xã hội Việt Nam, cho nên họ không thể nhân danh chuyện này để đưa đất nước đến tương lai cả.”

Nhà nghiên cứu nhấn mạnh những ai “mượn” chủ nghĩa Marx “chân chính” như lâu nay vẫn làm ở Việt Nam để giành quyền lãnh đạo đất nước chỉ là “ngộ nhận hoặc lừa dối, huyễn hoặc” mà thôi.

‘Độc tài hay dân chủ

Theo Lữ Phương vấn đề ở Việt Nam hiện nay là không phải là theo chủ nghĩa Marx đích thực hay không đích thức mà là “vấn đề độc tài hay không độc tài”, vấn đề “phát triển hay không phát triển”, vấn đề “độc tài hay dân chủ.”

Nhà nghiên cứu cho rằng hoàn toàn có thể sử dụng các phạm trù, khái niệm, lăng kính của chính chủ nghĩa “Marx đích thực” để phóng chiếu và soi vào thực tế của xã hội VN, nhận diện “mặt thật” của tầng lớp thống trị, nhân dân bị trị hiện nay, qua đó nhận diện rõ được bản chất của “Đảng Cộng sản” cầm quyền mà vốn lâu nay theo ông vẫn “mượn” chủ nghĩa Marx để biện minh cho quyền lực độc tôn, thống đoạt từ tay nhân dân.

“Dùng chính khái niệm của Marx, tức là một phóng chiếu lộn ngược, thì tức là anh nhân danh những điều thế này, thế khác, nhưng trong thực tế, nó làm ngược hoàn toàn… Thí dụ như Marx nói xã hội công dân sẽ dần dần, từ từ nuốt chửng cái nhà nước thì bây giờ đây, nhà nước này lại trở thành một thứ nhà nước tuyệt đối, nhà nước vĩnh viễn.”

“Thí dụ như giai cấp công nhân lãnh đạo thì bây giờ là giai cấp bị bần cùng hóa và người ta đang phải đấu tranh chống lại chủ nghĩa tư bản man rợ hiện giờ. Nông dân cũng vậy, bây giờ là cướp đất, cướp nhà của người ta. Tức là một cái phóng chiếu lộn ngược lại hoàn toàn.”

Ở phần cuối của cuộc trao đổi với Quốc Phương của BBC, ông Lữ Phương khẳng định vấn đề của Việt Nam hiện nay là “chống chủ nghĩa tư bản man rợ” để xây dựng một “chủ nghĩa tư bản văn minh.”

Trên con đường này, ông khuyến nghị tầng lớp trí thức Việt Nam, ở trong hay ngoài nước, dù trong đảng cộng sản, hay không, cần phải “đoàn kết” với nhau, tránh “chia rẽ, bất hòa,” tỉnh táo chung tay xây dựng đất nước vì tương lai và công cuộc “dân chủ” của dân tộc.

Lữ Phương cảnh báo: “Vấn đề dân chủ không phải là cuộc chiến tranh. Tôi có kinh nghiệm trải qua chiến tranh. Chiến tranh nói thế nào đi nữa, thì nó cũng có thời gian chấm dứt. Nhưng cuộc dân chủ có hàng loạt những vấn đề”.

“Ví dụ cái đảng này là một yếu tố thôi, nhưng còn dân trí, còn các tầng lớp trí thức, các tầng lớp khác, hàng loạt vấn đề khác nhau. Chứ không phải có những nơi làm một cuộc đảo chánh xong rồi, chẳng hạn chúng ta tổ chức được đa đảng, bầu cử đâu vào đó rồi, nhưng xã hội vẫn dẫm chân tại chỗ với tất cả những tệ nạn, những khuyết tật, bệnh trầm kha của một xã hội chậm tiến.”

Để giải quyết vấn đề, lý luận gia cho rằng “mấu chốt” của Việt Nam hiện nay và tương lai vẫn phải là một “xã hội dân sự”, một “xã hội công dân” trong quan hệ đối diện nhà nước, với các công dân có trách nhiệm, có ý thức, có năng lực, không bị “huyễn hoặc,” là những người sẽ giúp tìm lời giải đáp đưa đất nước, dân tộc thực sự đạt được dân chủ, tiến bộ đích thực.

Toàn văn bản Tuyên bố chung giữa HAI ĐẢNG CỘNG SẢN Việt Nam và Trung Quốc


http://danlambaovn.blogspot.com/2011/10/toan-van-ban-tuyen-bo-chung-giua-hai.html#more

Posted on 16/10/2011

1. Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã thăm chính thức nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 10 năm 2011.

Trong thời gian chuyến thăm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Ðào; lần lượt hội kiến với Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Ðại hội Ðại biểu Nhân dân Toàn quốc Ngô Bang Quốc; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Thủ tướng Quốc vụ viện Ôn Gia Bảo; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc Giả Khánh Lâm. Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Thủ tướng Quốc Vụ viện Lý Khắc Cường cũng đã tham gia các hoạt động liên quan.

Trong bầu không khí chân thành, hữu nghị, hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước; đi sâu trao đổi ý kiến về việc tăng cường hơn nữa quan hệ giữa hai Đảng, hai nước trong tình hình mới, cũng như về các vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm, đạt được nhận thức chung rộng rãi. Ngoài Bắc Kinh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thăm tỉnh Quảng Đông.

Hai bên nhất trí cho rằng, chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thành công tốt đẹp, thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển ổn định, lành mạnh và đi vào chiều sâu, đồng thời có ảnh hưởng tích cực thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

2. Hai bên vui mừng trước những thành tựu mang tính lịch sử mà nhân dân hai nước, dưới sự lãnh đạo của hai Đảng Cộng sản, đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, trong đổi mới của Việt Nam và cải cách mở cửa của Trung Quốc.

Phía Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự mở đầu thuận lợi trong thực hiện Quy hoạch 5 năm lần thứ 12 của Trung Quốc; tin tưởng vững chắc Đảng Cộng sản Trung Quốc nhất định sẽ đoàn kết chặt chẽ và dẫn dắt nhân dân Trung Quốc thực hiện thắng lợi mục tiêu vĩ đại xây dựng toàn diện xã hội khá giả và đẩy nhanh hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa.

Phía Trung Quốc chúc mừng thành công của Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và tin tưởng vững chắc rằng, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thực hiện thắng lợi những mục tiêu và nhiệm vụ mà Đại hội XI đã đề ra, xây dựng Việt Nam thành nước xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

3. Hai bên đã nhìn lại và tổng kết những thành tựu to lớn đã giành được trong quá trình phát triển quan hệ hai nước 61 năm qua kể từ khi Việt Nam và Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao, đặc biệt là 20 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ, và nhất trí cho rằng, quan hệ hai nước đã phát triển nhanh và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.

Hai bên nhấn mạnh tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau, tin cậy lẫn nhau, hợp tác với nhau là kinh nghiệm quan trọng cho quan hệ hai nước phát triển ổn định, lành mạnh; khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt – Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.

Hai bên khẳng định, Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục, sẽ tăng cường giao lưu hữu nghị giữa hai nước, mở rộng hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực, trân trọng, giữ gìn, phát triển tốt quan hệ hai Đảng, hai nước Việt – Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc phát triển một cách ổn định, lành mạnh, lâu dài.

Hai bên nhất trí cho rằng, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến sâu sắc, phức tạp, việc hai Đảng, hai nước Việt Nam – Trung Quốc tăng cường hơn nữa sự tin cậy chiến lược, hợp tác chặt chẽ toàn diện, xử lý thỏa đáng các vấn đề còn tồn tại hay mới nảy sinh giữa hai nước, là phù hợp với lợi ích căn bản và lâu dài của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, có lợi cho sự nghiệp chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, có lợi cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

4. Hai bên nhất trí áp dụng các biện pháp hữu hiệu, thiết thực để mở rộng toàn diện và đi sâu hợp tác hữu nghị trên các lĩnh vực giữa hai nước:

Một là, duy trì truyền thống tốt đẹp các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao thông qua các hình thức linh hoạt, đa dạng như thăm song phương, trao đổi qua đường dây nóng, gặp gỡ tại các diễn đàn đa phương, cử đặc phái viên…, kịp thời trao đổi ý kiến về tình hình quốc tế, khu vực và các vấn đề quan trọng trong quan hệ song phương, tăng cường trao đổi chiến lược, nắm chắc phương hướng thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc phát triển lâu dài, lành mạnh, ổn định. Trong thời gian chuyến thăm, hai bên chính thức khai thông đường dây nóng giữa lãnh đạo cấp cao hai nước.

Hai là, phát huy đầy đủ vai trò quan trọng của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc trong việc đi sâu hợp tác thực chất, thúc đẩy quan hệ song phương, tăng cường hơn nữa sự chỉ đạo và quy hoạch chính sách đối với hợp tác trong các lĩnh vực, thúc đẩy tổng thể sự hợp tác, phối hợp xử lý vấn đề phát sinh, thúc đẩy hợp tác thiết thực trên các lĩnh vực đạt thành quả phong phú hơn nữa, không ngừng làm phong phú nội hàm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện hai nước.

Ba là, thắt chặt giao lưu hợp tác giữa hai Đảng, thực hiện có hiệu quả “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2011-2015”. Tổ chức tốt Hội thảo lý luận giữa hai Đảng, tăng cường trao đổi kinh nghiệm xây dựng Đảng, quản lý đất nước; mở rộng và đi sâu hợp tác đào tạo cán bộ Đảng, chính quyền; tổ chức các cuộc gặp gỡ cấp Trưởng Ban theo cơ chế giao lưu, hợp tác giữa hai Ban Đối ngoại và hai Ban Tuyên truyền hai Đảng vào thời điểm thích hợp.

Bốn là, đi sâu hợp tác giữa hai quân đội, tăng cường tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao quân đội hai nước; tiếp tục tổ chức tốt Đối thoại Chiến lược cấp Thứ trưởng Quốc phòng; thúc đẩy thiết lập đường dây điện thoại trực tiếp giữa hai Bộ Quốc phòng hai nước; tăng cường hợp tác đào tạo cán bộ và giao lưu sĩ quan trẻ; triển khai thí điểm tuần tra chung biên giới đất liền vào thời điểm thích hợp; tiếp tục tổ chức tuần tra chung giữa hải quân hai nước trong Vịnh Bắc Bộ; tăng cường hợp tác trong các mặt như tàu hải quân hai nước thăm nhau.

Năm là, đi sâu hơn nữa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực thi hành pháp luật và an ninh; tổ chức tốt Hội nghị cấp Bộ trưởng Hợp tác phòng chống tội phạm lần thứ ba giữa hai Bộ Công an hai nước; thúc đẩy triển khai các hoạt động chung chống xuất nhập cảnh trái phép ở khu vực biên giới; tăng cường phối hợp có hiệu quả trong các lĩnh vực phòng chống tội phạm kiểu mới như tấn công tội phạm lừa đảo viễn thông. Tăng cường giao lưu và hợp tác giữa các cơ quan như tòa án, viện kiểm sát, công an, hành chính tư pháp; cùng phòng ngừa và tấn công các hoạt động vi phạm pháp luật, tội phạm xuyên biên giới; tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong việc giữ gìn ổn định trong nước của mình.

Sáu là, tăng cường và mở rộng hợp tác thiết thực giữa hai nước theo các nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, chú trọng hiệu quả thực tế, bổ sung thế mạnh lẫn nhau, bằng nhiều hình thức đa dạng, cùng nhau phát triển:

– Phát huy đầy đủ vai trò của Ủy ban hợp tác kinh tế – thương mại, Ủy ban liên hợp hợp tác khoa học kỹ thuật giữa Chính phủ hai nước trong việc chỉ đạo, điều phối tổng thể, đôn đốc thực hiện hợp tác thiết thực giữa hai nước trong các lĩnh vực liên quan. Thực hiện tốt “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế – thương mại Việt Nam – Trung Quốc” vừa được ký kết trong chuyến thăm này.

– Tích cực thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, tài chính, ngân hàng, nông lâm nghiệp, giao thông, điện lực, công nghệ thông tin, khoáng sản, năng lượng, du lịch…, tăng cường trao đổi về thúc đẩy cân bằng thương mại song phương, khuyến khích và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp của hai nước mở rộng hợp tác lâu dài cùng có lợi, xây dựng khu hợp tác kinh tế biên giới và hợp tác “hai hành lang, một vành đai”…

– Tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực như khoa học kỹ thuật, giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, văn hóa, y tế, thể thao, báo chí… Tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như bảo vệ môi trường, quản lý nguồn nước và ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện tốt “Thỏa thuận trao đổi giáo dục 2011 – 2015”, mở rộng số lượng lưu học sinh cử sang nhau.

– Tiếp tục tổ chức tốt các hoạt động giao lưu nhân dân, như Diễn đàn Nhân dân Việt – Trung, Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt – Trung, đẩy mạnh tuyên truyền tình hữu nghị Việt – Trung, tăng cường định hướng dư luận và quản lý báo chí, thúc đẩy tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, giữ gìn đại cục quan hệ hữu nghị hai nước, làm cho tình hữu nghị Việt – Trung được kế thừa và phát huy rạng rỡ.

– Mở rộng hơn nữa sự giao lưu, hợp tác giữa các địa phương hai nước, nhất là các tỉnh giáp biển, giáp biên giới của hai nước như Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Quảng Ninh, Điện Biên, Hà Giang, Lai Châu của Việt Nam với Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Hải Nam của Trung Quốc.

– Tiếp tục thực hiện tốt các văn kiện có liên quan đến biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, “Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ”; tích cực tìm tòi mô hình mới trong kiểm tra liên hợp khu vực đánh cá chung ở Vịnh Bắc Bộ; thúc đẩy thiết lập đường dây nóng liên lạc giữa cơ quan ngư nghiệp hai nước.

– Đẩy nhanh tiến trình đàm phán, sớm ký kết “Hiệp định tàu thuyền qua lại tự do khu vực cửa sông Bắc Luân” và “Hiệp định hợp tác khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch khu vực thác Bản Giốc”, cùng nhau duy trì ổn định và phát triển ở khu vực biên giới.

Trong thời gian chuyến thăm, hai bên đã ký “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc (2011-2015)”, “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế – thương mại giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2012 – 2016”, “Thỏa thuận trao đổi giáo dục 2011 – 2015 giữa Bộ Giáo dục – Đào tạo nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, “Nghị định thư giữa Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc về sửa đổi Hiệp định vận tải ôtô giữa Chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc”, “Nghị định thư giữa Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc về thực hiện Hiệp định vận tải ôtô giữa Chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc”, “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”.

5. Hai bên đã trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển; nhấn mạnh ý chí và quyết tâm chính trị thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị để giải quyết tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định tại Biển Đông; cho rằng điều này phù hợp với lợi ích căn bản của hai nước và nguyện vọng chung của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển tại khu vực.

Lãnh đạo hai Đảng, hai nước sẽ duy trì trao đổi và đối thoại thường xuyên về vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ tầm cao chính trị và chiến lược, kịp thời chỉ đạo xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển.

Hai bên đánh giá tích cực việc hai nước ký kết “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển”; cho rằng việc ký kết Thỏa thuận này có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng đối với việc xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, sẽ cùng nỗ lực thực hiện nghiêm chỉnh Thỏa thuận này.

Căn cứ vào nhận thức chung đã có giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển”, hai bên đẩy mạnh đàm phán vấn đề trên biển, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, đồng thời tích cực trao đổi tìm kiếm giải pháp có tính quá độ, tạm thời, không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển.

Hai bên thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển ở khu vực này. Hai bên tích cực thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên biển, thăm dò khai thác dầu khí, phòng chống thiên tai…

Trước khi giải quyết dứt điểm tranh chấp trên biển, hai bên cùng giữ gìn hòa bình, ổn định trên Biển Đông, giữ thái độ bình tĩnh và kiềm chế, không áp dụng hành động làm phức tạp hoá hoặc mở rộng thêm tranh chấp, không để các thế lực thù địch phá hoại quan hệ hai Đảng, hai nước, xử lý các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để ảnh hưởng tới quan hệ hai Đảng, hai nước và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.

6. Phía Việt Nam khẳng định thực hiện nhất quán chính sách một nước Trung Quốc, ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất cứ quan hệ chính thức nào với Đài Loan. Phía Trung Quốc bày tỏ hoan nghênh lập trường trên của phía Việt Nam.

7. Hai bên khẳng định tiếp tục mở rộng giao lưu và hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao hai nước, tổ chức tốt trao đổi chính trị giữa Bộ Ngoại giao hai nước, tăng cường trao đổi và hợp tác tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế như Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao Á – Âu (ASEM), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), ASEAN+1, ASEAN+3, Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng…, cùng giữ gìn và thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển và phồn vinh của khu vực và thế giới.

8. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng chân thành cảm ơn Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chính phủ, nhân dân Trung Quốc về sự đón tiếp trọng thị, nhiệt tình và hữu nghị. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trân trọng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào sớm sang thăm lại Việt Nam. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào bày tỏ cảm ơn về lời mời.

TQ khống chế lãnh đạo đảng CSVN


http://danlambaovn.blogspot.com/2011/10/tq-khong-che-lanh-ao-ang-csvn.html#more

Posted on 15/10/2011

Đại Nghĩa (danlambao)

1- Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Hồ Chí Minh 

Nhân dân Việt Nam, nhất là đồng bào ở miền Bắc không ai mà không biết đến cuộc Cải cách ruộng đất “long trời lỡ đất” do chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh thực hiện trên đất Bắc từ năm 1953 đến năm 1956 đã giết hơn nửa triệu người dân vô tội. (theo Thượng tọa Thích Quảng Độ trong bản “Nhận định về những sai lầm tai hại của đảng CSVN đối với dân tộc và Phật giáo Việt Nam”). Cũng chính vì chiến dịch CCRĐ này mà cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tố lẫn nhau tạo ra sự mất đoàn kết trong nhân dân và ngay cả trong gia đình mà hậu quả vô cùng bi thảm.

Ông Hồ Chí Minh kể từ khi theo đảng CS đệ tam quốc tế và ngữa tay nhận viện trợ của đồng chí Trung cộng, đấu tranh giải phóng gông cùm của Pháp 100 năm để mang vào cái ách của giặc Tàu 1.000 năm. Dân tộc Việt Nam đang có nguy cơ bị Hán hóa và diệt chủng. Tội lỗi này được ông Hoàng Tùng, nguyên tổng biên tập báo Nhân Dân (1954-1982) viết chuyện về “Bí mật HCM” kể như sau:

“Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi bác sang, nhất định bắt phải thực hiện CCRĐ. Sau thấy không thể từ chối được nữa, bác mới quyết định phải thực hiện CCRĐ… 

“Muà hè năm 1952, sau khi đi Trung quốc và Liên xô về, bác chuẩn bị cho hội nghị cán bộ đầu năm 1953, quyết định CCRĐ. Đoàn cố vấn CCRĐ do Kiều Hiếu Quang làm trưởng đoàn. Kiều là phó bí thư tỉnh ủy Quảng Tây”. (Đàn chim Việt online ngày 4-7-2010)

Cụ Nguyễn Văn Trấn, một nhà cách mạng lão thành, trong thời kỳ CCRĐ đã đưa phái đoàn đại biểu miền Nam ra thăm ông Chủ tịch Quốc hội Tôn Đức Thắng, và ông kể lại trong “Viết cho Mẹ và Quốc hội”:

“Nè nghe má. Có lần anh chị em Nam bộ“đại biểu tôi đến gặp ông già Tôn mà hỏi, tại sao ổng để cho CCRĐ giết người như vậy?” 

“Bác Tôn đang ngồi, nghe tôi hỏi, liền đứng dậy bước ra ghế, vừa đi và nói: 

“Đụ mẹ, tao cũng sợ nó, mầy biểu tao còn dám nói gì?”

“Quả thật, lúc CCRĐ còn nghe theo Chệc mà phóng tay phát động ai mà có ý kiến với nó thì sẽ bị quy là có tư tưởng địa chủ”. (VCMVQH- trang 267)

2- Tổng bí thư đảng CSVN: Lê Duẩn

Tổng bí thư Lê Duẩn, người trước kia theo Trung cộng chống bọn xét lại Liên Xô, sau lại theo Liên Xô chống Trung cộng, trong bài phát biểu năm 1979 ông nhắc lại chuyện bị đồng chí khống chế ra sao:

Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội (Trung quốc) đến giúp chúng ta xây dựng đường xá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác. Chúng tôi biết rõ mưu đồ này, nhưng phải cho phép (sự xâm nhập của quân đội TQ). Thôi thì cũng được. Nhưng họ quyết định đưa quân vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gởi người, nhưng quân lính của họ đến cùng súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này. (Đàn Chim Việt online ngày 14-6-2011)

3- Tổng bí thư đảng CSVN: Nguyễn Văn Linh

Năm 1990, sau khi Liên Xô nước đầu đàn của khối XHCN sụp đổ tổng bí thư đảng CSVNNguyễn Văn Linh lật đật quay lại cầu cạnh và tôn Trung quốc làm nước XHCN đàn anh. (Người ta lớn vì ta quỳ xuống- TH)

Nguyên thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ trong hồi ký chương “Thuốc đắng không dã được tật” thuật lại lời của ông Linh như sau:

“Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ CNXH… Tôi sẵn sàng sang Trung quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… 

“Tôi cần nêu cao ngọn cờ CNXH, kiên trỉ chủ nghĩa Mác-Lênin”. (Hồi ký TQC- chương 10)

Theo “Hồi ức và suy nghĩ” chưa xuất bản công khai của ông Trần Quang Cơ thì ngày 2-9-1990 một phái đoàn CSVN cấp cao do TBT Nguyễn Văn Linh cầm đầu bị Trung Quốc lừa gọi sang bí mật họp ở tại Thành Đô, thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên thực chất là để “nhận lệnh” giải quyết vấn đề Campuchia theo hướng có lợi cho Trung quốc mà không bàn gì đến vấn đề Việt-Trung.

Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là vì chính ta đã tự lừa ta. Ta đã tạo ra ảo tưởng là Trung quốc sẽ giương ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và CNXH thế giới, chống lại hiểm họa“diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu”. (Dân Làm Báo online ngày 10-10-2011)

4- Tổng bí thư đảng CSVN: Đỗ Mười

Theo bài của Lý Nguyên dịch từ nguồn tin công bố trên báo chí của Trung cộng và chính tân TBT Đỗ Mười là người cầm đầu phái đoàn cao cấp sang Trung cộng để chính thức bình thường hóa bang giao và nhận 16 chữ vàng oan nghiệt!

“Một năm sau gặp gỡ Thành Đô, tháng 11 năm 1991, tổng bí thư mới của đảng CSVN Đỗ Mười và chủ tịch Hội đồng bộ trưởng mới Võ Văn Kiệt thăm Trung quốc. Người lãnh đạo hai nước công bố tuyên bố chung, tuyên bố quan hệ Trung-Việt bình thường hóa. Tháng 2-1999, người lãnh đạo Trung-Việt công bố 

“Tuyên bố chung”, xác định khuôn khổ phát triển quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, nói ngắn gọn là 16 chữ “ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu hảo, hợp tác toàn diện. (Dân Làm Báo online ngày 10-10-2011)

5- Tổng bí thư đảng CSVN: Lê Khả Phiêu

Dưới thời tổng bí thư đảng CSVN Lê Khả Phiêu, Việt Nam và Trung cộng ký Hiệp ước biên giới tháng 12-1999 tại Hà Nội và hiệp ước phân Vịnh Bắc Bộ vào tháng 12-2000 tại Bắc Kinh dâng đất, dâng biển cho Trung cộng mà không thông qua Quốc hội đã bị dư luận trong các vị lão thành cách mạng chê trách thậm tệ.

Giáo sư Trần Khuê trả lời phỏng vấn của tuần báo Việt Tide, ông nói:

“Các cụ lão thành cách mạng và các cựu chiến binh mà tôi gặp ở đó nói rằng bộ chính trị của Lê Khả Phiêu đã nhường một phần đất biên giới cho Trung quốc. Tôi rất ngạc nhiên. Họ cũng phê bình, chê ông Lê Khả Phiêu là hậu duệ của Lê Chiêu Thống… 

“Đúng như thế, hành động cắt đất, cắt biển cho ngoại bang như thế là hành động phản dân tộc, phản quốc, phản lịch sử cần phải được xét xử”. (Việt Tide số 30 ngày 8-2-2002)  

6- Tổng bí thư đảng CSVN: Nông Đức Mạnh

Nhân dân Việt Nam không còn ai lạ gì với việc Trung cộng khai thác bauxite ở Tây Nguyên, mặc dù đã có không biết bao nhiêu sự chống đối nhưng bộ chính trị đảng CSVN vẫn cho tiến hành vì cho đó là “chủ trương lớn của đảng” (chứ không phải là chủ trương của Dân). Trong dự án này thấy rõ là đảng CSVN đã đi ngược lòng Dân và cả hàng ngàn vị thân hào nhân sĩ trí thức cũng như vị tướng khai quốc công thần Võ Nguyên Giáp. Người chịu trách nhiệm đầu tiên là tổng bí thư đảng CSVN là Nông Đức Mạnh và kế đến là thủ tướng chính phủNguyễn Tấn Dũng.

“Bản tin của Bộ Ngoại giao Việt Nam thì nói, hồi giữa năm ngoái, tổng bí thư đảng CSVN, ông Nông Đức Mạnh, sang thăm Trung quốc, cũng khẳng định 2 nước“tăng cường hợp tác trong các dự án” trong đó có dự án khai thác bauxite tại Đắc Nông”. (RFA online ngày 11-2-2009)

7- Tổng bí thư đảng CSVN: Nguyễn Phú Trọng

Đương kim tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng thì “ông bị một số nhà quan sát nước ngoài cho là “thân Trung quốc” và có xu hướng thiên về bảo thủ tuy được đánh giá là nhân vật ôn hòa” (BBC online ngày 19-1-2011).

Vừa qua, trong chuyến đi triều kiến Thiên triều chỉ nhận được 6 điều lệnh chung chung, toàn những lời sáo ngữ thông thường, nhưng tựu trung là dặn dò giải quyết tranh chấp ôn hòa kiên trì phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt và, ông Trọng vui vẻ nâng bi.

“Tại hội đàm, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa khẳng định ủng hộ thực hiện nhất quán chính sách một nước Trung quốc, ủng hộ sự nghiệp lớn thống nhất Trung quốc”. (Thanh Niên online ngày 11-10-2011)

Khi các đồng chí vĩ đại ôm nhau hôn hít, giải quyết “tầm cao chiến lược” ở bàn hội nghị “theo tinh thần tuần tự tiệm tiến”, “chín mùi” (nuốt luôn khỏi nhai), kiên quyết giải quyết qua đàm phám hòa bình mọi tranh chấp trên biển Đông thì ngay khi chữ ký chưa ráo mực, tờ Hoàn Cầu Thời Báo, một tiếng nói chính thức của đảng CS Trung quốc đã trịch thượng hăm dọa “phá hỏng” dự án thăm dò dầu khí giữa Việt Nam và Ấn Độ ngay trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Không chỉ lên tiếng phản đối, Trung quốc cần phải có “những hành động kiên quyếtđể phá hỏng dự án đó. Tờ Hoàn Cầu Thời Báo đề nghị, một khi Ấn Độ và Việt Nam khởi động thăm dò dầu khí chung, Trung quốc có thể gửi các lực lượng phi quân sự đến phá rối và gây bất hòa giữa hai nước để ngăn chận việc thăm dò này”. (RFI online ngày 14-10-2011)

8- Trung tướng thứ trưởng bộ Quốc phòng: Nguyễn Chí Vịnh 

Ngoài những vị tổng bí thư của đảng CSVN ra còn một ông tướng thường hay nổi đình đám nhiều tai tiếng là ông trung tướng thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh. Theo cụLê Hữu Hà, người có 65 tuổi đảng và là cựu tư lệnh chiến dịch Tây Bắc trả lời thông tín viênHà Giang đài RFA, cụ nói về ông tướng “lưng cong” này như sau:

“Tôi biết là nó rất hư xấu, nhưng mà rất ranh mãnh từ nhỏ. Tôi là người đề nghị đình chỉ công tác Nguyễn Chí Vịnh đi cô ạ, bởi vì hiện tại thì tôi biết nó là tay sai của một thế lực nước ngoài đang phá hoại công trình của đất nước chúng tôi. (RFA online ngày 23-6-2010)

Tiến sĩ địa chất Nguyễn Thanh Giang chua chát nhận định về những nhà lãnh đạo của đảng CSVN như sau:

“…nhiều vị lãnh đạo của ta còn bị Trung quốc sập bẫy biến thành kẻ dâng hiến các phần lãnh thổ: công hàm 14 tháng 9 năm 1958 của thủ tướng Phạm Văn Đồng đang đẩyHoàng Sa vào thế kẹt, năm 1988 Lê Khả Phiêu đi Trung quốc hiến thác Bản Giốc, Mục Nam Quan, Vịnh Bắc bộ, năm 2001 Nông Đức Mạnh đi Trung quốc mở đường cho họ vào khai thác bauxite và nằm vùng ở Tây Nguyên…! 

“Từ khi ông Trọng lên nắm quyền, chỉ trong vòng ba tháng, từ tháng 6 tới tháng 9 vừa qua, ít nhất ba phái đoàn cấp cao đã được cử sang Bắc kinh… Những chuyến công du mở đường để ông Trọng sẽ được khoản đãi long trọng ấy đã đạt được những kết quả gì? 

“Phải chăng chỉ đạt được những lời rủ rê mà như lệnh truyền:“cùng Việt Nam cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ sự hợp tác hữu nghị, truyền thống tốt đẹp giữa 2 nước”. (Đàn Chim Việt online ngày-10-2011)

Điểm danh qua các vị lãnh đạo đảng CSVN từ khi có đảng đến nay thì không có vị nào là không bị Trung cộng khống chế cả. Tất cả đều răm rắp làm theo sự chỉ đạo của ngoại bang thì làm sao mà lãnh đạo đất nước một cách tốt đẹp được. Giành quyền lãnh đạo mà lãnh đạo như thế ư? Ngày xưa khi quân giặc sang xâm chiếm bờ cõi thì nhà vua huy động sự quyết tâm chống giặc của toàn dân qua Hội Nghị Diên Hồng, còn ngày nay “vua quan” không có lòng chống giặc thì làm sao có được. Dân mới biểu tỏ quyết tâm chống giặc qua các cuộc biểu tình ôn hòa thì đã bị đảng CSVN đã thẳng cẳng “đạp vào mặt”, “khiêng đi” rồi còn gì mà chống. Họ đã ngang nhiên chà đạp lên tình yêu nước của dân tộc. Không có gì đau lòng hơn nhìn mấy thanh niên mặc áo màu vàng “NO-U” phía sau lưng cởi xe chạy trong mưa nói lên lòng yêu nước chống quân xâm lược mà phải có hành động trốn chạy như kẻ chống đảng CSVN không bằng.

Ôi, còn nỗi nhục nào hơn!!!

Đại Nghĩa (sưu tầm)

danlambaovn.blogspot.com

Vì sao Đặng Tiểu Bình đánh VN năm 1979?


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/02/110217_1979_war_history.shtml

 Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình thăm Hoa Kỳ và họp báo với Tổng thống Jimmy Carter ngày 31/1/1979

Nhắc lại Chiến tranh Trung – Việt 32 năm về trước, một số nguồn sử liệu gần đây nhấn mạnh hơn đến vai trò riêng của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình trong cuộc tấn công Trung Quốc gọi là ‘phản kích tự vệ’.

Trong phần gửi cho BBC hôm 16/2 vừa qua, ông Dương Danh Dy, nhà ngoại giao Việt Nam từng làm việc tại Trung Quốc, có nói đến cách nhìn cuộc chiến từ hai phía.

Tuy nhiên, văn bản này còn cho biết thêm về vai trò quan trọng của ông Đặng Tiểu Bình trong quyết định đánh Việt Nam, trong bối cảnh quốc tế có cả quan hệ với Washington và Moscow.

Nay BBC Tiếng Việt khai thác thêm các góc độ trong tài liệu này và so sánh với một số đánh giá đã nêu từ trước về cuộc chiến 1979, sự kiện vẫn chưa được thảo luận công khai ở cả Việt Nam và Trung Quốc.

‘Hoa Kỳ không tán thành’

Đặng Tiểu Bình được trích lời nói rằng ông đã tuyên bố dạy cho Việt Nam ‘một bài học’ trước đó, khi thăm Hoa Kỳ, mở đầu chiến lược kiên kết với chính quyền Carter, nhằm chống lại Moscow và các đồng minh, trong đó có Hà Nội.

Ông Đặng nói với các tướng lĩnh Quân Giải phóng rằng Hoa Kỳ không tán thành việc Bắc Kinh trừng phạt Hà Nội nhưng cũng giúp một ít tin tình báo.

Cuộc đưa quân sang Campuchia của Việt Nam khi đó cũng là chủ đề đáng được nhắc lại vì phía TQ cho rằng cuộc chiến 1979 chủ yếu để ‘dạy cho VN một bài học’ vì ‘xâm lăng Campuchia’, nước khi đó là đồng minh, và hiện nay cũng đang gần lại với Trung Quốc trong chiến lược Đông Nam Á của Bắc Kinh.

Trong bản dịch của học giả Dương Danh Dy nhân kỷ niệm 32 năm Chiến tranh Biên giới, ông Đặng tiết lộ:

“Khi thăm Mỹ tôi nói cho Việt Nam bài học, nước Mỹ không tán thành. Chúng ta sử dụng hành động tương đối lớn sợ dẫn tới phản ứng lớn của Liên Xô, nước Mỹ một mặt phản đối chúng ta trừng phạt, nhưng mặt khác cũng thông báo cho chúng ta chút tình báo, nói quân đội Liên Xô về căn bản không động đậy, trên mấy ngàn cấy số biên giới( Trung Xô) chỉ có 54 sư đoàn không đầy đủ quân số,”

Có vẻ như chi tiết này khiến TQ tiến hành cuộc chiến họ gọi là ‘Đối Việt tự vệ phản kích chiến’ nhanh chóng và sau khi tàn phá sáu tỉnh biên giới của VN thì rút quân về:

“Ba phần tư binh lực Liên Xô bố trí tại châu Âu, nên muốn tấn công Trung Quốc qui mô lớn thì phải chuyển dời trọng điểm chiến lược, ít nhất phải điều 1 triệu quân từ châu Âu về, việc này không kịp vì thời gian hành động của chúng ta không dài.”

 Những người lính Trung Quốc hành quân trong cuộc chiến

Trong bài nói chuyện đó, ông Đặng Tiểu Bình cũng gọi Việt Nam là ‘Cuba Phương Đông’, hàm ý nước này là ‘tay sai Liên Xô’, và gọi các lãnh đạo Hà Nội là ‘điên cuồng’.

Với giới trí thức bên ngoài, kể cả ở Phương Tây, cuộc chiến ngắn ngày nhưng dữ dội là một cột mốc quan trọng để đánh giá Trung Quốc trong quá trình tìm con đường mới, thoát khỏi thời kỳ tự cô lập của Mao Trạch Đông, và xác định vị trí trên trường quốc tế.

Vai trò quyết định

Trong một nghiên cứu hồi 2010, tác giả Trương Tiểu Minh từ U.S. Air War College, Hoa Kỳ cho rằng ông Đặng có vai trò cá nhân nổi bật trong quyết định đánh Việt Nam.

Theo ông, nhìn từ quan điểm của ban lãnh đạo TQ khi đó thì có ba yếu tố khiến bối cảnh xảy ra cuộc chiến trở nên khả thi.

Đó là quan hệ đặc biệt giữa Moscow và Hà Nội sau hiệp định 1978; vai trò thống trị của Việt Nam ở Đông Dương và quan hệ xấu đi nghiêm trọng giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

Còn về nội bộ, theo TS Trương, chính việc thăng chức của ông Đặng Tiểu Bình, từ vị trí phó thủ tướng khi Mao chết năm 1976, lên chức vụ cao nhất, nắm Quân uỷ Trung ương tại Hội nghị Trung ương 3, Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là yếu tố quyết định cho việc đánh VN.

Trong bài dịch của học giả Dương Danh Dy, ông Đặng tỏ ra có quan điểm thù ghét Việt Nam một cách khác thường.

Trong phát biểu ngày 16/3/1979, ông được trích lời nói:

“Đồng thời khi kinh doanh chuyện chống đối Trung Quốc, Việt Nam đã đánh nhau nhiều năm, ngay lúc chúng ta tăng cưòng viện trợ cho chúng, có công sự đã xây bẩy năm, có cái đã được ba năm, chỗ nào cũng thấy công sự, tích trữ rất nhiều vật tư, rất nhiều vật tư là do chúng ta viện trợ, gạo, đạn, vũ khí, lần này lấy về một loạt, Việt Nam cậy có hiệp ước Xô Việt mới dám như thế.”

Một số nhà quan sát đã từng cho rằng ông Đặng phụ trách chuyện viện trợ của TQ cho Hà Nội thời chiến tranh Mỹ – Việt nên cảm thấy bị ‘phản bội’ bởi thái độ quay sang Liên Xô của nước Việt Nam cộng sản sau chiến tranh.

Vì thế, quyết định trừng phạt của ông được nói rõ:

“Nó cũng nghĩ là cậy hiệp ước này kéo Liên Xô xuống nuớc, cũng cậy có hiệp ước này cho rằng chúng ta không dám áp dụng trừng phạt qui mô tưong đối lớn. Ngay trước khi chúng ta ra quân mấy ngày nó còn dự đoán rằng chúng ta chỉ có hành động phạm vi nhỏ hai sư đoàn. Chúng ta hạ quyết tâm này đúng là đã tỉnh táo đánh giá phản ứng của phía bắc lớn đến đâu.”

Các nguồn tin của phía Việt Nam, chẳng hạn như lời kể của cựu đại tá Bùi Tín, cho rằng mâu thuẫn giữa ông Lê Duẩn và Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình lên cao trước khi xảy ra cuộc chiến năm 1979.

Một số giới tại Việt Nam tin rằng ban lãnh đạo Bắc Kinh không thực sự muốn hai miền Nam Bắc VN thống nhất dưới sự lãnh đạo của Hà Nội.

Ngoài ra, trong dư luận Việt Nam có niềm tin rằng Trung Quốc chỉ lợi dụng tình thế để kiếm lợi về địa chính trị và cả lãnh thổ, với bằng chứng là vụ đưa quân chiếm Hoàng Sa năm 1974 từ tay Việt Nam Cộng Hòa.

 Cố vấn an ninh Brzezinski đưa ra chiến lược lôi kéo Trung Quốc

Hệ quả lâu dài

Về vai trò của Mỹ, các bình luận cho tới nay phần nhiều đồng ý rằng chiến lược lôi kéo Trung Quốc để bao vây Liên Xô của cố vấn an ninh Zbigniew Brzezinski là yếu tố cơ bản để Washington liên kết với Bắc Kinh trong vấn đề Đông Dương.

Điều này cũng được chính giáo sư Brzezinski, người gần đây lại một lần nữa kêu gọi chính quyền Obama xây đắp trở lại quan hệ với Trung Quốc, xác nhận trong nhiều bài viết và sách của ông.

Đổi lại, Trung Quốc được mở lối vào lại với Phương Tây để hiện đại hóa nền kinh tế nhờ các thí điểm về đầu tư tư bản và công nghệ.

Về phía Hoa Kỳ, chiến lược Brzezinski tạo liên minh không tên với Trung Quốc khiến Washington phá vỡ khối xã hội chủ nghĩa châu Á mà không phải tham chiến.

Chiến tranh Biên giới 1979 và cuộc chiến Việt Nam – Campuchia đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế này, xung đột quân sự nổ ra giữa các nước cùng ý thức hệ.

Kế hoạch Bốn Hiện Đại hóa của Trung Quốc cuối thập niên 1970, đầu 1980 có cả phần về quân sự.

Và dù thiệt hại nặng trong cuộc chiến biên giới, Quân Giải phóng Trung Quốc đã rút kinh nghiệm trong việc tổ chức và tiến đến hiện đại hóa.

Việc tăng cường quân bị theo mô hình dùng không quân, hải quân và tên lửa nhiều hơn bộ binh, lực lượng chịu nhiều thiệt hại năm 1979, khiến Trung Quốc ngày nay trở thành một cường quốc khu vực với tham vọng toàn cầu.

Còn với Việt Nam, ngoài thiệt hại nghiêm trọng về vật chất ở các tỉnh biên giới phía Bắc, xung đột vẫn kéo dài, gây chảy máu nền kinh tế.

Cuộc chiến và việc đóng quân lại Campuchia cũng khiến Hà Nội bị cô lập nhiều năm về chính trị và kinh tế.

10 năm sau, cùng thời gian cách mạng dân chủ rung chuyển Đông Âu, ban lãnh đạo Việt Nam đã lại ngả sang Bắc Kinh qua cuộc gặp Thành Đô, tạo ra một loạt hệ luỵ mới cho quan hệ song phương tới ngày nay.

Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển dần dần được giải quyết nhưng hòa bình qua đường biên giới, giao thương tăng nhanh với phần lợi nghiêng về Trung Quốc, vẫn chưa thực sự đem lại hòa giải giữa hai nước.

Việc các trang mạng cá nhân và blog ở Việt Nam nhắc lại nhiều về cuộc chiến 1979 cho thấy giới trí thức e ngại Trung Quốc vẫn muốn lên tiếng, trong khi truyền thông chính thức không đả động gì đến chủ đề lịch sử này.

TQ nói về chiến tranh biên giới 1979


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/02/120216_chinaview_border_war.shtml

Cập nhật: 12:32 GMT – thứ năm, 16 tháng 2, 2012

 Cuộc chiến 1979 gây tổn thất lớn cho cả hai bên

Nhân dịp 33 năm cuộc chiến biên giới Việt-Trung, mời quý vị cùng điểm qua nguồn tin Trung Quốc nói về sự kiện này.

Gần đây, các trang mạng kể cả chính thống của Trung Quốc đăng tải một số bài viết về cuộc chiến biên giới 1979. Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy gửi từ Hà Nội bản dịch của ông cho bài trên mạng China.com, tựa đề “Trong cuộc đánh trả tự vệ Việt Nam năm 1979: Vì sao không chia cắt Việt Nam, thương vong khi rút về lớn hơn khi tấn công?”.

Bài viết nhận định: “Năm 1979, trong trận đánh trả tự vệ Việt Nam, quân đội Trung Quốc với thế nhanh chóng tấn công, quân Việt từng bước tan rã, quân đội Trung Quốc nhắm thẳng Hà Nội. Sau đó Trung Quốc tuyên bố trận đánh đã đạt mục đích, tự rút quân về nước”.

Tuy nhiên, bài này cũng thừa nhận: “Lâu nay chúng ta luôn tuyên truyền và miêu tả rằng chúng ta đã thắng lợi và Việt Nam đã thất bại, nhưng cùng với thời gian những văn kiện của chính quyền và tư liệu của Việt Nam cho thấy, cuộc chiến này không lạc quan như tuyên truyền trước đây, trong đó có nhiều bài học nặng nề đau đớn khiến chúng ta không thể không phản tỉnh một cách sâu sắc”.

Các bài học đó là: Thứ nhất, kỷ luật quân sự nghiêm túc đã làm “quân ta” phải trả giá trầm trọng.

“Ba kỷ luật lớn, tám điều chú ý mà quân đội ta giữ nghiêm đã phát huy tác dụng lớn trong cuộc nội chiến Quốc, Cộng; thế nhưng khi chúng ta vào Việt Nam đánh quân đội và chính quyền Việt Nam mà vẫn thực hiệnba kỷ luật lớn tám điều chú ý là tự trói chân trói tay mình lại, hy vọng dùng những cái đó để tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân Việt Nam thì chẳng khác gì đàn gẩy tai trâu, tự chuốc lấy nhục.”

“Nhân dân Việt Nam không phải là công dân Trung Quốc, làm sao họ có thể gần gũi quân đội nước ngoài đánh vào đất nước họ?”

“Chiến tranh là chiến tranh, nhất là chiến tranh giữa các quốc gia, anh không thể hy vọng nhân dân nước khác đánh trống khua chiêng hoan nghênh anh xâm chiếm người ta, đó chẳng qua chỉ là trò bịt tai đi ăn cắp chuông, tự lừa dối mình và lừa dối người.”

Bài học thứ hai, theo bài trên China.com, là “không quân phát triển trì trệ, lạc hậu không có sức công kích”.

“Thứ ba, hải quân Biển Đông lúc đó còn chưa phát triển. Cuộc chiến hoàn toàn diễn ra trên lục địa Việt Nam.”

“Đánh Việt Nam vừa để dạy bài học, vừa thu hồi lãnh thổ bị chiếm, vùng gần biên giói trên bộ bị Việt Nam chiếm giữ đã thu hồi hết cớ làm sao không thu hồi các đảo, bãi trên Biển Đông bị Việt Nam chiếm giữ?”

Mạng China.com

Tác giả bài viết tỏ vẻ luyến tiếc về việc Trung Quốc không nhân cơ hội thu chiếm luôn các đảo ở Biển Đông.

“Đánh Việt Nam vừa để dạy bài học, vừa thu hồi lãnh thổ bị chiếm, vùng gần biên giói trên bộ bị Việt Nam chiếm giữ đã thu hồi hết cớ làm sao không thu hồi các đảo, bãi trên Biển Đông bị Việt Nam chiếm giữ?”

“Điều giải thích duy nhất là hải quân của chúng ta chưa đủ, không chỉ chưa đủ để đánh lùi hải quân Việt Nam chiếm giữ đảo bãi của ta mà còn khó có thể đóng giữ ở đó, đánh lùi được kẻ địch tới xâm phạm. Điều khiến người ta lấy làm tiếc là các đảo bãi trên Biển Đông dưòng như đã bị các nước láng giềng xung quanh chia nhau chiếm hết rồi.”

Đặc biệt, bài viết còn cho rằng tới nay hải quân Trung Quốc “vẫn chưa dùng tới sức đã có của mình để giải phòng và bảo vệ các đảo, bãi thiêng liêng đó”.

Lý do thứ tư gây ra tổn thất cho quân đội Trung Quốc được cho là vì “sức ép bên ngoài”.

“Khi quân đội ta đã tiến gần Hà Nội, dưói sức ép của thế lực quốc tế đứng đầu là Liên Xô, chúng ta không chỉ tuyên bố đình chỉ tấn công, mà còn công khai tuyên bố lập tức rút quân.”

“Đó là một sai lầm chính trị và quân sự to lớn, trước khi rút quân đã tuyên bố rút sẽ khiến kẻ thù dễ dàng có thời gian và không gian chuẩn bị phản kích, địch có chuẩn bị còn ta thì không, địch thong dong mà chúng ta vội vã, không bị thương vong lớn mới là chuyện lạ.”

Tổn thất lớn

Cho tới nay, thống kê vẫn chưa đồng nhất về con số thương vong của hai bên trong cuộc chiến biên giới Việt-Trung, mà Trung Quốc khởi xướng với động cơ mà Bắc Kinh gọi là “đánh trả tự vệ”.

Phía Trung Quốc nói quân lính Việt Nam chết và bị thương vào khoảng 50.000 – 70.000, lính Trung Quốc khoảng 20.000.

Cũng trên mạng China.com từng đưa ra con số được nói là theo ghi chép từ hồ sơ mật về Trận Phản kích Tự vệ với Việt Nam, rằng Trung Quốc “tiêu diệt gần 6 vạn quân Việt Nam, trong đó hơn 42.000 đã chết và hơn 10.000 người bị thương, hơn 2.000 người bắt làm tù binh”.

Phía Việt Nam thì trong một số bản tin hiếm hoi nói tiêu diệt hơn 30.000 lính Trung Quốc.

Tạp chí Time của Mỹ lại đưa ra con số khá khác biệt: ít nhất 20.000 lính Trung Quốc thiệt mạng, trong khi số bộ đội Việt Nam chết chưa tới 10.000 .

Hàng nghìn dân thường Việt Nam cũng thiệt mạng và thương vong.

32 năm chiến tranh biên giới Trung-Việt


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/02/110216_sino_viet_war.shtml

Cập nhật: 09:53 GMT – thứ tư, 16 tháng 2, 2011

32 năm trước, vào sáng sớm ngày 17/02, Trung Quốc đã tấn công trên toàn tuyến biên giới đất liền với Việt Nam thuộc địa phận sáu tỉnh miền Bắc.

Cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu đã để lại dư ấn lâu dài trong quan hệ Việt-Trung mà tới hơn mười năm sau mới chính thức được bình thường hóa.

Một số tài liệu mới đăng tải trên các trang mạng của Trung Quốc nay hé mở thêm nhiều chi tiết về cuộc chiến này.

Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy vừa gửi cho BBC bài phát biểu của lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tại một hội nghị nội bộ hôm 16/03/1979, một tháng sau khi Trung Quốc bất ngờ tấn công Việt Nam.

Trong thời điểm đó, Trung Quốc cũng đang tiến hành rút quân sau khi tuyên bố chiến thắng và “hoàn thành mục tiêu chiến tranh”.

Lần đánh này vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là năm đánh một, sáu đánh một, chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí sáu đánh một, bảy đánh một.

Đặng Tiểu Bình

Bài phát biểu của ông Đặng giải thích thêm về lý do và mục đích của cuộc chiến tranh.

Trong đó, ông Đặng Tiểu Bình nói “lần đánh trả tự vệ này” là “một cuộc tác chiến trừng phạt có giới hạn” về thời gian cũng như quy mô, và chỉ nhằm “dạy cho tên Cuba phương đông điên cuồng” một bài học.

“Đồng thời cũng là một sự ủng hộ Campuchia chống Việt Nam xâm lược.”

Theo ông Đặng, đây là “hành động quan trọng mở rộng mặt trận thống nhất quốc tế phản đối bá quyền”.

Ông nói lãnh đạo Việt Nam đã bị bất ngờ trước sự tấn công của Trung Quốc vì trước đó mấy ngày, Việt Nam còn dự đoán phạm vi tấn công nhỏ, gồm hai sư đoàn.

Trên thực tế, Trung Quốc đã điều tới 20 sư đoàn bộ binh trong ngày đầu cuộc chiến.

Yếu tố bất ngờ

Nhiều cán bộ lãnh đạo của Việt Nam lúc bấy giờ cũng đều đã nhắc tới sự ngỡ ngàng vì không lường trước được quy mô tấn công của quân đội Trung Quốc.

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, người lúc đó là đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, nói với BBC rằng khi nghe tin, ông hoàn toàn bất ngờ.

Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ thì nói ông cảm thấy mình “bất lực”.

Ông Dương Danh Dy, lúc đó làm việc tại đại sứ quán ở Bắc Kinh, cũng nói cuộc chiến tranh “về tổng thể không bất ngờ đối với chúng tôi, nhưng về thời gian cụ thể và nhất là về quy mô binh lực mà Trung Quốc sử dụng thì quả là không tính tới”.

Trong bài phát biểu hôm 16/03/1979, ông Đặng Tiểu Bình cho hay kế hoạch đánh Việt Nam lúc đó không được Mỹ đồng tình về quy mô vì sợ phản ứng của Liên Xô.

“TW Đảng, Quân ủy TW hạ quyết tâm này không dễ, trải qua nhiều lần suy ngẫm, trải qua gần hai tháng suy ngẫm mới hạ được quyết tâm đó.”

Tuy nhiên, ông Đặng đánh giá: “Bây giờ xem ra hạ quyết tâm đó là đúng”.

Văn bản bài phát biểu của lãnh đạo Trung Quốc mới được đăng tải nói: “Chúng ta nói trận này nhất định phải đánh, có ba lý do lớn phải đánh”.

“Một là, mặt trận thống nhất chống bá quyền quốc tế đòi hỏi có sự chế tài cần thiết đối với Cuba phương đông (tên ông Đặng Tiểu Bình dùng để gọi Việt Nam).

“Hai là, chúng ta cần phải xây dựng bốn hiện đại hóa. Chúng ta cần môi trường tương đối ổn định, đáng tin cậy. Để cho xét lại Liên Xô, Việt Nam ngày ngày ở phía bắc phía nam đe dọa chúng ta làm cho tinh thần không yên. liệu có được không?

“Lý do thứ ba, là quân giải phóng nhân dân ba mươi năm nay không đánh trận.”

Theo ông Đặng, đây là cơ hội tốt để Giải phóng quân Trung Quốc chứng tỏ “vẫn là quân giải phóng”.

Quy mô cuộc chiến

Thống kê chưa đồng nhất về con số thương vong trong cuộc chiến

Lãnh đạo Trung Quốc tuy vậy thừa nhận rằng trong cuộc chiến tranh biên giới 1979, nước này “giết gà đã phải dùng dao mổ trâu”.

Ông Đặng nói trong bài phát biểu: “Lần đánh này vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là năm đánh một, sáu đánh một, chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí sáu đánh một, bảy đánh một”.

“Thương vong của chúng ta là bốn so với một, thần thoại của chúng bị tiêu diệt.”

Cũng nói về quy mô cuộc chiến, trang mạng quân sự milchina.com của Trung Quốc mới đây đăng thư của một cựu chiến binh Trung Quốc từng tham gia chiến tranh biên giới 1979 cho hay kế hoạch của Trung Quốc là “đưa bộ đội Dã chiến 2 (một trong bốn dã chiến quân nổi tiếng của quân đội Trung Quốc hồi nội chiến do Lưu Bá Thừa làm tư lệnh, Đặng Tiểu Bình làm chính uỷ) vào Lào, rồi đánh xiên ngang sang Việt Nam sau đó vu hồi lên bắc gặp đại quân của ta nam hạ”.

Bức thư viết: “Tuy vậy kế hoạch này quá mạnh, hoàn toàn giống như một trận đánh diệt cả một nước, có thể làm chấn động thế giới, nên trước ngày đánh một tuần lễ đã bị hủy bỏ, đổi thành cuộc chiến lấy quy mô sư đoàn, trung đoàn là chính”.

“Thế nhưng, nó vẫn bị gọi là “dùng dao mổ trâu để giết gà”.”

Một điểm nữa trong bức thư của cựu chiến binh Trung Quốc: “Mục đích của cuộc chiến tranh này là tàn phá, hủy hoại quốc lực của Việt Nam chứ không phải là chiếm lĩnh lãnh thổ, nên sau hai ngày đánh nhau, bộ đội tham chiến của ta bắt đầu chấp hành mệnh lệnh bán chính thức là “không bắt tù binh”, “không để lại cho Việt Nam một lá cây ngọn cỏ”.”

Cho tới nay, thống kê vẫn chưa đồng nhất về con số thương vong của hai bên trong cuộc chiến biên giới Việt-Trung.

Phía Trung Quốc nói quân lính Việt Nam chết và bị thương vào khoảng 50.000, lính Trung Quốc khoảng 20.000.

Hàng nghìn dân thường Việt Nam cũng thiệt mạng và thương vong.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.